Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Bình- Khu du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Bình- Khu du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

Điểm du lịch sinh thái Hang E- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Thuộc quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng
Đang cập nhật




Điểm du lịch sinh thái Bàu Sen- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Xã Sen Thủy - huyện Lệ Thủy
Bàu Sen là hồ nước ngọt nằm sát biển, thuộc xã Sen Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ. Truyền thuyết nói rằng Bàu Sen không đáy, mà thông với một hồ nước ngọt khác cũng sát biển theo kiểu "bình thông nhau" có tên là Bàu Tró ở thành phố Đồng Hới, cách đây chừng 40km về phía bắc.
Truyền thuyết còn đưa ra một dẫn chứng "thực nghiệm" rằng, người ta đánh dấu quả bưởi đem thả xuống Bàu Tró, ít ngày sau thấy nó nổi lên ở Bàu Sen!

Người xưa thấy bàu sát biển, lại không có các nguồn nước đổ vào, vậy mà giữa những muôn trùng nắng gió chang chang, bàu vẫn đầy ắp nước, xanh rì, ngọt lịm, nên tự an ủi bằng lời giải thích huyền hoặc phi tự nhiên vậy thôi, chứ kỳ thực, cũng như Bàu Tró, Bàu Sen có đáy, và nguồn nước ngọt cấp cho Bàu Sen luôn đầy là từ các đồi cát bao bọc trùng điệp quanh bàu.
Mỗi đồi cát này sẽ là một chiếc "khăn tắm" khổng lồ được dồn đống lại, ngấm "no" nước vào mùa mưa, để lặng lẽ cấp nước cho Bàu suốt mùa hè miền Trung khốc liệt, rồi chờ đợi một mùa mưa tích nước khác, luân hồi. Một sự mát mẻ, khoan thai, từ tốn trong lòng, trái ngược với vẻ ngoài khô khốc "chang chang cồn cát..." mà ngay đến Tố Hữu, người con miền Trung xứ Huế cũng khó nhận ra. Tuy nhiên, ngày nay, những đồi cát báu vật, riêng có ở đây đang ngày đêm bị khai thác cạn vơi dần, dẫn đến nguy cơ làm cạn kiệt nguồn nước Bàu Tró, Bàu Sen...

Tên là Bàu Sen, nhưng từ khi biết nó đến nay, tôi chưa từng thấy sen mọc ở đây bao giờ, duy chỉ có cá là nhiều. Hơn 5 năm trước, tôi cùng cơ quan phối hợp với Trường đại học Thủy sản Nha Trang thả xuống đây hàng vạn cá giống nước ngọt các loại để làm giàu đa dạng sinh học của bàu.


Bàu Sen gồm hai nửa vắt qua đường thiên lý bắc-nam (quốc lộ 1). Nửa phía tây (nhỏ hơn) thường nhận và phản ánh rõ ràng nhất, ấn tượng nhất những tia nắng quái chiều hôm với những chập chờn khoảnh khắc.

Ngược lại, nửa phía đông Bàu Sen (lớn hơn), lại có năng lực cảm nhận, lưu giữ và "miêu tả" tinh tế màn sương mai mờ ảo mỗi sáng trong lành, và cũng chỉ trong chốc lát.

Nhưng Bàu Sen không chỉ có sương mai và nắng quái chiều hôm , những "thực đơn tinh thần" thuần khiết . Ở đây còn có món cháo cá Bàu Sen, một món ngon ẩm thực đã thành thương hiệu, làm nức lòng biết bao du khách trên đường thiên lý Bắc - Nam, mỗi khi qua đây...

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch văn hóa sinh thái Bàu Tró- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Phường Hải Thành - TP. Đồng Hới
Mùa hè năm 1923, hai thông tin viên người Pháp của trường Viễn đông Bác Cổ là Mác (Max) và Đơ-pi-rây (Depiruy) đã phát hiện di chỉ khảo cổ học Bàu Tró. 
Bàu Tró là tên của một hồ nước ngọt nằm giữa các đồi cát ven biển, ở phía Đông Bắc thị xã Đồng Hới. Nơi đây từ ngàn xưa, người nguyên thủy đã cư trú quanh hồ. Dấu vết của người xưa đã chìm dần trong cát.
Di chỉ khảo cổ học Bàu Tró ở vào 106 độ 37’13" kinh độ Đông, 17 độ 29’30" vĩ độ Bắc. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Páttơ (Etinen Patte) đã tổ chức khai quật Di chỉ Bàu Tró và công bố kết quả nghiên cứu trong một báo cáo trên tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ (Viện Khảo cổ học ngày nay) với nhan đề: "Về một di chỉ thời tiền sử đá mới, đống vỏ sò Ở Bàu Tró, Tam Tòa gần Đồng Hới". Hiện vật thu được còn tàng trữ tại Viện bảo tàng lịch sử việt Nam, gồm: 46 rìu đá, 140 mảnh tước, 2 hòn đá bằng thạch anh (Páttơ gọi là hòn ghè: Perueteur), 1 dụng cụ đá dùng để tu chỉnh ép (Reto-uchoir), 14 bàn nghiền hạt, 1 chì lưới, 1 số thổ hoàng (đá son), 1 đốt xương sống cá, vỏ sò, mảnh gốm vỡ, v v...
Páttơ đã mô tả rằng: "...Những người thời tiền sử ở đây đã để lại các dụng cụ và rất nhiều vỏ ốc là di tích của các bữa ăn của họ. Rồi họ bỏ đi, rồi bị cát, bị gió thổi đã bao phủ di chỉ..."
Mùa xuân năm 1980, khoa lịch sử khảo cổ Trường Đại học tổng hợp Huế khai quật lại di chỉ Bàu Tró. Địa điểm khai quật nằm phía tây nam của bàu, cách mép nước bàu lúc đó 40 mét cao hơn mặt nước 2,3 m, cách hố khai quật năm 1923 của Páttơ hơn 100 mét về phía Tây. Cùng tham gia khai quật có giáo sư Hà Văn Tấn (Viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam), Võ Quý (Ban Đông Nam Á, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam). Hiện vật thu được gồm 31 rìu, bôn đá, 47 bàn mài, 7 chày nghiền, 3 mũi nhọn, 1 vòng say, 2 phiến tước. Nhiều cục thổ hoàng bị mài vẹt từ nhiều phía; 11972 mảnh vỡ đồ gốm, gồm các loại nồi, niêu, bình, vò, bát, đĩa, cốc v.v... được trang trí bằng hoa văn dấu thừng, hoa văn khắc vạch, màu đỏ thổ hoàng, màu đen ánh chì v.v... Điều vô cùng lý thú, nếu như năm 1923 Páttơ chỉ tìm thấy loại di chỉ Cồn Cò Điệp thì nay chúng ta đã tìm thấy loại di chỉ mới - di chỉ Cồn Đất.
Với quy mô và ý nghĩa khoa học to lớn của di chỉ Bàu Tró các nhà nghiên cứu đã lấy tên di chỉ này để đặt cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới, gồm các di chỉ phân bố vùng ven biển Nghệ Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế là văn hóa Bàu Tró.
Bàu Tró, ngoài ra còn là một thắng cảnh, hơn nữa là một thắng cảnh dân dụng.
Đứng trên đồi cát làng Hải Thành nhìn thấy Bàu Tró và biển chỉ còn một khoảnh khắc nữa là chan hòa vào nhau. Ấy thế mà mạch nước ở đó vẫn cứ trong văn vắt và ngọt mát đến mê hồn. Bàu Tró là nguồn nước ngọt duy nhất cung cấp nước sinh hoạt, nước nông nghiệp cho toàn bộ vùng Đồng Hới nhiễm mặn. Thuở trước, Bàu Tró thật hoang vu, thật nguyên sơ với một vùng phi lao cổ thụ, với rất nhiều chim chóc, bay nhảy, bơi lặn. Cạnh Bàu Tró có một cái nghè thờ một vỏ lúa bằng gỗ khá to. Có rất nhiều chuyện kể dân gian xung quanh cái bàu kỳ lạ này, trong đó có chuyện cho rằng bàu này " không đáy" mà thông với một bàu nước ngọt khác: Bàu Sen, cách Đồng Hới ngót 30 km đường đất! Đó là cách lý giải dân gian về khả năng "vô tận" của nguồn nước ngọt nhỏ nhoi, quí hiếm nằm lọt vào giữa ba bề bốn bên là nước mặn.
Ngày nay, Bàu Tró đang được đặt vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chẳng những là một di chỉ khảo cổ học, một thắng cảnh nổi tiếng mà còn là nguồn nước sinh kế cho một vùng cư dân trù phú.
Bàu Tró là niềm tự hào, là tài sản vô giá của quê hương.

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch sinh thái phá Hạc Hải- Quảng Bình




Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Cuối nguồn sông Kiến Giang (nơi tiếp giáp 2 huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh)
Ở cuối nguồn sông Kiến Giang, nơi tiếp giáp hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) hiện ra một đầm phá bao la ngoạn mục với nhiều loại thủy sản, đó là Phá Hạc Hải. Phá Hạc Hải cách trung tâm thành phố Đồng Hới chừng 20 cây số bên cạnh Quốc lộ 1A. Trong Đại Nam nhất thống chí triều Nguyễn đã mô tả phá Hạc Hải như sau:"Ở cách huyện Lệ Thủy 14 dặm về phía bắc, có tên là Thiển Hải, cũng gọi là Bình Hồ... trăm sông tụ hội, mọi nhánh đổ về, gọi là Hạc Hải, phía đông bắc từng động cát chập chồng, phía tây bắc vạn núi chắn ngang, chỗ sâu chỗ cạn, có một đường lạch rất sâu, thuyền bè đi lại cần phải đề phòng sóng gió; hạ lưu hợp với sông Mỹ Hương rồi đổ ra biển".

An Nam chí chép: "Thiển Hải ở huyện Nha Nghi, sóng biếc mênh mông, cây lau rậm rạp, chim nước nổi chìm, thuyền chài tụ tán có thể làm nơi du ngoạn của một phương". Vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh có "Mâu Sơn vi bút, Hạc Hải vi nghiên". Là vùng đất hiếu học cho nên huyện Quảng Ninh đã có 4 làng văn, vật "văn, võ, cổ, kim". Lệ Thủy cũng có nhiều làng học, thời nào cũng có nhiều nhân vật khoa cử nổi tiếng. Phá Hạc Hải có diện tích khoảng 12km2, độ sâu 1,5-3m. Phá Hạc Hải là vùng nước lợ, có độ mặn 15-20% cho nên có rất nhiều loài thủy sản nước lợ như: tôm, cua, cá bống, cá buôn, cá úc, cá leo béo ngọt, rạm gạch nổi tiếng... Hàng trăm hộ xung quanh phá Hạc Hải chuyên nghề đánh bắt thủy sản đã cung cấp cho thị trường Đồng Hới một khối lượng thủy sản lớn. Phá Hạc Hải cũng là nơi rất thuận lợi cho cây cối (dùng làm chiếu) phát triển. Dưới đáy phá Hạc Hải còn có nhiều rong rêu mà nhân dân thường khai thác về làm phân bón cho cây cối hoa màu.

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch văn hóa tộc người Rục- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: huyện Minh Hóa 
Văn hóa được xác định là nền tảng phát triển xã hội. Trên nền tảng đó, di sản văn hóa hình thành và đồng hành cùng các hoạt động kinh tế xã hội. Di sản văn hóa càng đặc sắc, độc đáo, có giá trị phổ quát cao thì càng đóng góp to lớn cho sự phát triển xã hội.
Trong hoạt động du lịch, giá trị văn hóa nói chung và di sản văn hóa tộc người nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định cho sự hình thành sản phẩm du lịch văn hóa tộc người - loại sản phẩm in dấu truyền thống và nhân văn của mọi tour du lịch, kể cả du lịch sinh thái.
Những giá trị văn hóa tộc người khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng
Vùng Phong Nha - Kẻ Bàng bao gồm cả khu vực rừng đặc dụng trên vùng núi đá vôi, với tổng diện tích gần 200.000 ha, là địa bàn cư trú của người Việt, người Chứt (nhóm Arem, Rục, Sách...) và người Bru - Vân Kiều (nhóm Vân Kiều, Trì, Khùa, Macoong...).
Các làng xã người Việt phân bố chủ yếu ở hai huyện Bố Trạch và Minh Hóa (bao gồm các xã Sơn Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch, Hưng Trạch, Thượng Hóa, Tân Trạch, Thượng Trạch...). Đó là dân cư các làng Mé, Trằm, Hà Lời, Na, Phong Nha... Rất có thể họ là những cộng đồng cư dân phân bố ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh, vùng đồng bằng Bắc Bộ và cả vùng đồng bằng Quảng Trạch, Bố Trạch ở Quảng Bình lên định cư lập làng tại các vùng phụ cận Phong Nha - Kẻ Bàng vào các thời kỳ khác nhau (có thể từ TK XI theo Chiếu mộ dân của vua Lý Nhân Tông vào lập nghiệp ở đây và trở về sau, đến TK XVI gắn với sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa và Trịnh - Nguyễn phân tranh lấy sông Gianh làm giới tuyến) (1).
Vấn đề ở đây là phải đi sâu làm sáng rõ quá trình thành lập làng xã, sự hình thành các dòng họ khai canh, khai khẩn, các am miếu, nhà thờ họ, sự tích và huyền thoại của dân cư, để hiểu được giá trị đặc trưng của hệ sinh thái nhân văn ẩn chứa trong di sản thiên nhiên thế giới này. Ví như trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An đã nhắc đến đền Chân Linh và sau này trong Đại Nam nhất thống chí,Quốc sử quán triều Nguyễn nhắc đến đền Tiên sư tự cốc. Đó là ngôi đền nằm ở cửa động Phong Nha, gắn với lễ hội xin nước tiên của dân cư sống quần tụ quanh lưu vực sông Son. Người Việt ở khu vực động Phong Nha cho rằng, động này là nơi trú ngụ của các thần linh, là nơi nguồn nước chảy ra vô tận, nơi giao hòa sinh khí giữa trời và đất. Vì vậy, nước chảy từ động Phong Nha có khả năng “diệu ứng” cho vạn vật sinh linh. Hàng năm vào tháng 5 âm lịch, người dân trong vùng tổ chức lễ cầu đảo (cầu mưa). Lễ vật chính là một con chó đen (đại diện cho con vật uế tạp), cổ buộc một tờ sớ với lời cầu xin trời đổ mưa xuống và đưa đến trước cửa động. Người dân trong vùng đứng thành vòng tròn trước cửa động, khi nghe tiếng trống vang lên (biểu hiện tiếng sấm), trai làng dìm con chó xuống nước, mọi người cùng nhau nhảy múa hô vang xin trời mưa xuống. Thầy cúng làm lễ cầu khấn trời đất và các vị thần làm mưa dâng nước để đẩy vật uế tạp đó đi. Theo người dân trong vùng, sau lễ nghi xin nước tiên, trời đổ mưa to. Từ đó dân trong vùng cho rằng, lời thỉnh của lễ hội cầu đảo tại đền thờ động Phong Nha có linh ứng. Vì thế hàng năm vào những ngày đầu mùa hạ, dân trong vùng tổ chức lễ xin nước tiên để tránh hạn hán mất mùa (2).
Văn hóa làng xã người Việt nơi đây còn là các món ăn dân gian, nhạc cụ dân gian và đặc biệt là các điệu hát tuồng, diễn tuồng. Đó là một hoạt động văn nghệ dân gian đặc sắc thường được tổ chức tại sân đình của các làng vào dịp lễ tết hoặc các lễ hội khác trong năm.
Văn hóa tộc người ở khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng còn bao gồm văn hóa các nhóm thuộc tộc người Chứt và một số nhóm thuộc tộc Bru - Vân Kiều. Tuy nhiên, các nhóm Trì, Khùa, Macoong thuộc tộc Bru - Vân Kiều chỉ mới xuất hiện ở vùng này khoảng TK XVII, họ chủ yếu ở Lào di cư sang(3). Còn vùng đất này, lớp dân cư có mặt sớm nhất phải nói đến các nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng thuộc tộc người Chứt. Trong đó, người Sách ở vùng thấp (sách là đơn vị hành chính thời phong kiến ở miền núi, dần dần trở thành tên gọi của nhóm người), Rục là tên gọi chỉ đặc điểm cư trú của nhóm người ở gần rục nước (rục nước là mạch nước ngầm chảy qua những lèn, những mô đá lớn), Arem là người ở dưới những rèm đá... Nên nhớ rằng, vùng núi thuộc khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng có những rèm đá, rục nước...
Tộc Chứt có khoảng 3.500 người, phân bố chủ yếu ở 11 xã thuộc 3 huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch. Trong khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, người Chứt có mặt ở 6 xã thuộc 2 huyện: Minh Hóa và Bố Trạch, với khoảng trên 2000 người, bao gồm các nhóm Arem, Rục, Sách (từ hang động Phong Nha theo đường tỉnh lộ 20, về phía Tây khoảng 4-5 km chúng ta sẽ gặp các nhóm của tộc Chứt). Họ là những cộng đồng dân cư nói ngôn ngữ Việt - Mường trước khi tách khỏi Việt. Bởi vậy, họ còn lưu giữ rất nhiều yếu tố ngôn ngữ Việt cổ như cách roọng (làm ruộng), chôblú (thầy cúng), kloóng (lễ cúng rẫy), côlốôc (cột cái), Cà Roòng (bản Cà Roòng)... Ngoài ra, cộng đồng cư dân này còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa nguyên thủy, lạc hậu, như đời sống du canh du cư, săn bắn, đánh cá, hái lượm làm nguồn sống chính (do hoạt động kinh tế nương rẫy chọc lỗ tra hạt trên dốc núi, nên năng suất cây trồng thấp, rủi ro nhiều, nguồn thu từ trồng trọt chỉ đủ nuôi sống họ vài ba tháng). Làng bản quy mô nhỏ (vài chục nóc nhà, thậm chí vài ba nóc nhà), nhà cửa hết sức tạm bợ (trừ người Sách, còn lại các nhóm khác, họ sống trong những ngôi nhà sàn được làm hết sức đơn sơ). Trang phục bằng vỏ cây, trang sức bằng vỏ ốc núi, vuốt hổ, răng lợn rừng. Nhiều yếu tố văn hóa đặc trưng rất độc đáo trong các nghi lễ cúng tế liên quan đến chu kỳ sản xuất, chu kỳ đời người, chữa bệnh bằng hình thức “thổi” có tính ma thuật. Các hình thức ca, múa, nhạc với nhiều loại nhạc cụ, như đàn ống, sáo, tù và, chiêng, ché... Có thể còn nêu thêm nhiều giá trị đặc trưng về di sản văn hóa tộc người khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, nhưng chỉ những điều đã đề cập ở trên đủ minh chứng rằng khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng ẩn chứa rất nhiều sản phẩm du lịch văn hóa tộc người.
Phải nói rằng di sản văn hóa tộc người là một tài sản vô giá được tích tụ trong quá trình lịch sử lao động sáng tạo. Những di sản văn hóa tộc người đó, đã và đang được đưa vào khai thác trong chương trình du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế.
Nhìn dưới góc độ bảo tồn văn hóa, những di sản văn hóa tộc người là tài sản vô giá của dân tộc cần được lưu giữ cho thế hệ hôm nay và mai sau. Nhưng xét về góc độ du lịch thì, di sản văn hóa tộc người đó còn là những sản phẩm hàng hóa tạo ra nguồn thu cho từng địa phương, giải quyết việc làm, góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân.
Đưa di sản văn hóa tộc người thành sản phẩm du lịch
Phải thừa nhận rằng, giữa di sản văn hóa tộc người với sản phẩm du lịch văn hóa có một khoảng cách quá lớn. Di sản văn hóa tộc người là một kho tư liệu sống, chứa đựng các giá trị sáng tạo của tộc người đó trong lịch sử. Còn sản phẩm du lịch văn hóa là di sản văn hóa được quy hoạch, thiết kế, quảng bá để khai thác vào hoạt động du lịch, nhằm giới thiệu cho du khách hiểu được đất nước, lịch sử, văn hóa, con người của vùng đất nhất định. Như vậy, sản phẩm du lịch văn hóa tộc người, bên cạnh việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, còn kết hợp với hoạt động du lịch phục vụ du khách để thu lợi nhuận kinh tế.
Nhưng, điều cần chú ý là muốn biến một di sản văn hóa tộc người thành sản phẩm du lịch văn hóa, chúng ta cần tạo ra một loại hình “sản phẩm văn hóa tộc người”. Có sự khác biệt giữa di sản văn hóa tộc người với tư cách là các giá trị văn hóa, các hoạt động văn hóa tự thân của cộng đồng dân cư đó với sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch. Lâu nay người ta cứ tưởng rằng, có di sản văn hóa tộc người đặc sắc là có sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch. Theo chúng tôi, không hoàn toàn như vậy. Nếu muốn biến một di sản văn hóa tộc người thành một sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, cần phải tổ chức tìm hiểu, nghiên cứu, trên cơ sở đó tiến hành quy hoạch, thiết kế thành một sản phẩm du lịch, rồi quảng bá, tuyên truyền giới thiệu cho du khách biết để họ tự tìm hiểu, chiêm nghiệm và ngẫm nghĩ.
Phải nói rằng, một trong những hạn chế của du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng là chưa tạo ra sự đa dạng các sản phẩm du lịch. Dường như tại đây chỉ biết khai thác du lịch ở hệ thống hang động kỳ vĩ, hệ thống động thực vật đa dạng, mà chưa chú trọng khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa.
Có điều phải thừa nhận, trong những năm gần đây, bên cạnh việc tập trung khai thác về cảnh quan thiên nhiên của di sản Phong Nha - Kẻ Bàng, ngành du lịch tỉnh Quảng Bình đã có sự quan tâm đến các di sản du lịch thuộc các di tích lịch sử văn hóa, như: Đường mòn Hồ Chí Minh, Bến phà Xuân Sơn, các trọng điểm trên đường 20 - Quyết Thắng, hang Tám cô... Còn di sản văn hóa tộc người ở khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng chưa được quan tâm khai thác. Nơi đây chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tộc người, bao gồm văn hóa làng xã của người Việt ở vùng kề cận Phong Nha - Kẻ Bàng như làng Mé, Trằm, Hà Lời, Na, Phong Nha...; lễ hội xin nước tiên, hệ thống các di tích đền miếu, kiến trúc tôn giáo, đặc biệt là đền Tiên sư tự cốc... cùng nhiều hình thức sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của các tộc người thiểu số khác.
Tuy nhiên, để trở thành giá trị văn hóa phục vụ cho du lịch thì lễ hội, đền miếu, món ăn, trang phục đó..., phải tạo ra được sản phẩm văn hóa phục vụ du khách. Ví như, lễ hội xin nước tiên, trò diễn tuồng là sinh hoạt truyền thống của cộng đồng dân cư nơi đây, nhưng để trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch thì lễ hội và trò diễn đó cần phải được tổ chức lại sao cho phục vụ được du khách.
Kinh nghiệm cho thấy, muốn biến di sản văn hóa tộc người thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, chúng ta cần phải chú trọng một số vấn đề quan thiết.
Nghiên cứu, tìm hiểu thấu đáo các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các cộng đồng dân cư vùng Phong Nha - Kẻ Bàng, trên cơ sở đó, tổ chức quy hoạch, thiết kế thành các tour du lịch phục vụ du khách. Việc quy hoạch điểm du lịch văn hóa tộc người phải tiến hành theo mô hình xây dựng làng du lịch. Làng du lịch văn hóa các tộc người ở vùng Phong Nha - Kẻ Bàng nên xây dựng theo một số tiêu chí cụ thể: phải là làng có các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo, có cảnh quan thiên nhiên và môi trường sạch đẹp, có cơ sở hạ tầng thuận lợi, có khả năng phục vụ du khách tham quan và nghỉ lưu trú qua đêm. Trên cơ sở đó, tổ chức cho dân làng tham gia các dịch vụ du lịch, như: leo núi, hướng dẫn viên bản địa, xây dựng các nhà nghỉ cộng đồng, tổ chức các dịch vụ ăn uống giới thiệu văn hóa ẩm thực
Cần chú ý đến tính đa dạng của sản phẩm du lịch, bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử văn hóa, làng văn hóa tộc người thiểu số, lễ hội... Sản phẩm du lịch càng đa dạng, càng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của du khách trong và ngoài nước.
Hướng dẫn viên du lịch, các công ty du lịch phải giới thiệu với du khách không chỉ về giá trị cảnh quan thiên nhiên của Phong Nha - Kẻ Bàng, mà còn tuyên truyền, giới thiệu cho họ các di tích văn hóa lịch sử, các di sản văn hóa tộc người nơi đây. Cần phải xuất phát từ sự chân thực nhất trong biểu đạt các di sản văn hóa tộc người với tất cả tâm hồn, tình cảm và sự hiểu biết của mình, khi ấy du khách sẽ yêu thích, tò mò, ham muốn tìm hiểu các di sản văn hóa tộc người đó.
Muốn biến di sản văn hóa tộc người thành sản phẩm văn hóa phục vụ du khách, chúng ta còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng, phương tiện vật chất ở những khu vực tổ chức, thiết kế điểm du lịch. Trên cơ sở đó mới có thể tổ chức hoạt động du lịch văn hóa tộc người một cách thích hợp và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần đề cao vai trò của cộng đồng dân cư, để họ thực sự là chủ nhân của chiến lược phát triển du lịch.
Quảng Bình đang cùng với cả nước tiến trên con đường hội nhập, phát triển kinh tế xã hội. Trên con đường đó, những di sản văn hóa tộc người ở vùng đất này cùng với di sản cảnh quan thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng đang và sẽ được khai thác, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng các chương trình du lịch.
Hy vọng rằng, với thế mạnh du lịch hang động, du lịch về cảnh quan thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng, hoạt động du lịch văn hóa tộc người kết hợp với du lịch các di tích lịch sử văn hóa nơi đây sẽ ngày càng được chú trọng đầu tư phát triển. 

Nguồn: quangbinh

Khu du lịch biển Nhật Lệ- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: TP. Đồng Hới
Sớm đầu xuân, sắc nắng hồng vẫn còn vương vấn hương vị ấm áp của tết qua những nhành mai khoe sắc vàng tươi thắm giữa đất trời tháng Giêng. Biển Nhật Lệ hiền hòa, mang một vẻ đẹp kiều diễm và lộng lẫy như những nàng tiên cá đang du xuân giữa lòng đại dương. Khách du xuân ghé thăm thành phố Hoa Hồng, hòa chung vào biển, sóng và cát làm Nhật Lệ trở nên tươi tắn, rạng ngời.
Ánh dương hé lộ trên đầu những con sóng. Từ khách sạn Sài Gòn- Quảng Bình nhìn ra phía đông thấy một biển nước mênh mông pha chút sắc hồng huyền ảo, như tấm áo của cô dâu trong ngày cưới. Làn khói xuân mỏng manh mang theo sương đêm lành lạnh la đà trên mặt nước kỳ ảo, gợi nỗi nhớ về những câu chuyện tình đầy nước mắt của nàng Mỵ Ê và công chúa Huyền Trân. Chuyện hư thực tôi không muốn bàn sâu, sáng nay lang thang dọc dòng Nhật Lệ, thoáng nghe sóng nước tự tình.
Nàng tên Mỵ Ê, vương phi của vua nước Chiêm Thành Xạ Đẩu. Vào triều đại vua Lý Thái Tông (1028- 10540), Chiêm Thành không thuần phục Đại Việt, vua Lý Thái Tông thân hành đem binh đi chinh phạt. Xạ Đẩu bày trận ở sông Bố Chính nghinh đón nhưng bị đánh tan. Quân Đại Việt tiến sâu vào kinh đô Đồ Bàn, Chiêm Thành bắt được nàng Mỵ Ê cùng nhiều cung nhân, nhạc nữ đưa về bắc. Thuyền đang đi qua một cửa sông, vua Lý nghe nàng Mỵ Ê có một sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, sai quan Trung Sứ mời vào hầu hạ.
Tượng đài Mẹ Suốt bên bờ Nhật Lệ
Nàng Mỵ Ê uất hận từ chối rằng: "Vợ phường mạn rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn từ thô lỗ, không giống các phi tần Trung Hoa. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thỏa lòng. Nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nỗi làm dơ mình rồng vậy!".
Nói đoạn lấy khăn lông quấn chặt người, nhảy xuống sông. Chỉ nghe ầm một tiếng, dáng ngọc chìm sâu vào dòng nước xoáy. Mấy trăm năm sau, ngang qua dòng sông nơi nàng Mỵ Ê bạc mệnh trầm mình thủ tiết trinh, thi sỹ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dệt lên những vần thơ khóc thương nàng cung phi Chiêm Thành: "Châu Giang một nhánh sông dài/ Thuyền ai than thở một người cung phi/ Đồ Bàn thành phá hủy/Ngọa Phật tháp thiên di/ Thành tan, tháp đổ/ Chàng tử biệt, thiếp sinh ly/ Sinh ký đau lòng kẻ tử quy/ Sóng bạc ngàn trùng/ Âm dương cách trở/ Chiên hồng một tấm/ Phu thê xướng lụy/ Ôi mây! Ôi nước! Ôi trời!/ Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi/ Nước sông trong đục/ Lệ thiếp đầy vơi/ Bể bể, dâu dâu, khóc nổi đời!/ Trời ơi! Nước hỡi! mây trời!/ Nước chảy, mây bay, trời ở lại/ Để thiếp theo chàng mấy dặm khơi".
Vua Trần Nhân Tông sau khi truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông lên tu hành tại núi Yên Tử, ngài thường xuyên đi du ngoạn đây đó, có lúc vào đến đất Chiêm Thành. Vua Chế Mân biết người khách khoác áo cà sa ấy là Thái Thượng Hoàng xứ Đại Việt đã lấy tình bang giao ra mà tiếp đãi nồng hậu. Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông cảm mối thịnh tình ấy hứa gả công chúa Huyền Trân cho ông vua trẻ Chế Mân. Chế Mân cắt hai châu Ô, Lý làm của hồi môn, rước Huyền Trân về nam. Công chúa Huyền Trân làm hoàng hậu Chiêm Thành một năm thì Chế Mân mất.
Theo tục lệ Chiêm Thành, vua mất thì các cung phi cũng phải lên dàn hỏa thiêu tuẫn táng theo. Vua Trần Anh Tông hay tin, sợ em gái mình bị hại bèn sai võ tướng Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành tìm cách đưa công chúa Huyền Trân về. Sử sách ghi lại cuộc hôn nhân của nàng công chúa trẻ Huyền Trân và vua Chế Mân thực chất là một cuộc hôn nhân chính trị, nhờ đó mà hai châu Ô, Lý thuộc về Đại Việt.
Rồi nghi án về mối tình của Huyền Trân và quan Nhập nội hành khiển Thượng thư Tả bộc xạ Trần Khắc Chung trên hành trình trốn chạy giữa biển đông ngót một năm trời mới về tới kinh thành Thăng Long. Nghi án xưa chìm sâu vào quá khứ. Nhưng trên dặm đường xa ngái làm dâu xứ người, nước mắt công chúa Huyền Trân âm thầm rơi vào cửa sông này cùng với những lời ai oán trong "Nước non ngàn dặm" được cho là lời của Huyền Trân công chúa: "Nước non ngàn dặm ra đi/ Mối tình chi! Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô, Ly/ Xót thay vì/ Đương độ xuân thì/ Số lao đao hay là nợ duyên gì?/ Má hồng da tuyết/ Cũng như liều hoa tàn trắng khuyết/ Vàng lộn theo chì/ Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì...".
Cửa biển Nhật Lệ
Hai con người, hai bậc kiều nữ của hai đất nước lặng lẽ đánh rơi những giọt lệ buồn man mác. Cho bây giờ Nhật Lệ đẹp như nỗi buồn trên khóe mắt thiếu nữ, và biển cả mang vị mặn nồng của tình yêu. Có lẽ thế nên thi sĩ Hồ Thiên Du đã họa nên một bức tranh thơ trước cảnh sắc Nhật Lệ: "Nhật chi lệ bất vô chi chúc giả" (nghĩa là: sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời thì không nơi nào là nó không chiếu đến được).
Đến Nhật Lệ, thả hồn theo những bước chân trần trên cát, lãng du vào những câu chuyện cổ tích dạt dào tình yêu. Dọc theo con đường Nguyễn Du và Trương Pháp ven bờ Nhật Lệ chợt bắt gặp những dấu tích lịch sử hào hùng, trường tồn vĩnh cửu với thời gian. Đó là tượng đài Mẹ Suốt, người mẹ- chiến sĩ ngẩng cao đầu mặc mưa bom, bão đạn, chở bộ đội trên dòng Nhật Lệ huyền thoại; là Chứng tích tội ác chiến tranh tháp chuông nhà thờ Tam Tòa với nguyên vẹn ngôi tháp chuông.
Tại nhà thờ Tam Tòa, năm 1912, thi nhân Hàn Mặc Tử được rửa tội. Ông lớn lên cùng biển, sóng, nước Nhật Lệ mặn mòi, để có những vần thơ long lanh trên thi đàn Việt Nam: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Nhìn ra phía bắc, biển Quang Phú lập lờ dưới những tán dương xanh, cùng hương vị ngọt ngào Bàu Tró. Chỉ một khoảng cách rất ngắn... dường như, biển mặn và hồ nước ngọt liền mạch với nhau. Ấy thế, Bàu Tró vẫn là nguồn nước ngọt tự nhiên trên vùng đất "chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình".
Những năm 1809 - 1813, Đại thi hào Nguyễn Du làm cai bạ ở Quảng Bình, một chiều ông lang thang nơi cửa biển Nhật Lệ, thốt lên rằng: "Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa’’. Những chiều muộn, tiếng sóng dội bờ thì thầm nhỏ to tâm sự như lời những đôi tình nhân. Trên biển, chúng ta say ngắm những chuyến tàu đi khơi, đi lộng, rồi mới thấu hiểu nỗi lòng của những người cha, người chồng, người anh ra biển khơi, vẫn đau đáu, thương nhớ về một mái ấm gia đình. Cảnh đẹp cửa Nhật Lệ, sông Nhật Lệ, biển Nhật Lệ đi vào thơ ca nhẹ nhàng, bình dị, người Quảng Bình lấy dòng Nhật Lệ niềm tự hào cho cảnh quan sông núi quê mình: "Sông Nhật Lệ dòng sâu biết mấy/Núi Đầu Mâu cao bấy nhiêu tầng."
Mải mê lãng du, ai ngờ hoàng hôn đến tự bao giờ. Một ngày rong ruổi không đủ đi hết những triền cát trắng để thoả chí tang bồng, đành lỗi hẹn với Nhật Lệ, với biển, với cát, với tấm lòng của người dân biển. Thôi ta cùng cố nhân tìm vào một góc quán nhỏ bên bờ biển chiều. Chút mồi biển dân dã, cút rượu đế cay cay: "Cụng đầu tí chút mùi men/Lai rai hương đẻn mà nên bạn tình".

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Xã Lộc Thủy - huyện Lệ Thủy
Cách thành phố Đồng Hới 40 km, huyện Lệ Thủy với dòng Kiến Giang mơ màng, ngôi nhà xưa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những cánh đồng bất tận sẽ mang lại cho bạn một cảm giác vô cùng thảnh thơi.
Vào mùa xuân, những khoảng trời Lệ Thủy (Quảng Bình) trong veo và mọi nơi ngập tràn sắc xanh. Dù đã cuối tháng Giêng nhưng nếu ghé mắt vào các hàng rào, bạn sẽ thấy trước mỗi ngôi nhà đều có một cây mai vàng rực rỡ, những cánh mai trải thành thảm dưới nền đất. Hoặc, bạn cũng thấy những cây mai trắng mọc tự nhiên chẳng khác gì hoa hồng leo.
Lệ Thủy là vựa lúa của Quảng Bình. Đây là nơi hiếm hoi của miền Trung mà bạn có thể chiêm ngưỡng những cánh đồng mênh mông đến tận chân trời.
Người Lệ Thủy yêu hoa, cho nên vào mùa xuân, nhà nào cũng có một cây mai vàng rực rỡ hoặc mai trắng tinh khôi. Ngoài ra còn có lay ơn, thược lược hoặc một vườn... hoa cải

Những năm gần đây, con đường nho nhỏ giữa vựa lúa, kéo dài từ thị trấn đến cuối huyện được xây dựng lại và đặt tên là đường Võ Nguyên Giáp. Hai bên đường, những hàng tràm thẳng tắp đang ngày một lớn lên, hứa hẹn sẽ tạo nên một con đường vô cùng lãng mạn và thoang thoảng hương tràm. 

Đi bộ hoặc chạy xe máy giữa con đường này, bạn sẽ như trở về một thế giới tuổi thơ bình yên và trong lành. 
  
Cánh đồng rộng bát ngát
  
Những lối đi nhỏ của từng xóm đổ ra cánh đồng và xuyên qua đường Võ Nguyên Giáp
Điều làm nên nét lãng mạn của vùng đất này còn là dòng sông Kiến Giang hiền hòa. Dòng sông hiền hòa ăm ắp nước với sắc xanh đến mượt mà. 

Ngồi trên thuyền đi dọc sông Kiến Giang, bạn thoải mái ngắm những người nông dân cất vó hay từng đàn vịt láo nháo bên bờ.
Dòng sông yên bình trên quê hương 
  
Bên sông là những bờ đê lát đá to với lấm tấm cỏ xanh
  
Ngoài đường nhựa, phương tiện đi lại chủ yếu của người Lệ Thủy là thuyền. Vào mùa gặt, dòng sông tấp nập những con thuyền chở lúa chín
   
Và những người con của vùng đất này, khi đi xa đều không thể quên bến nước thuở ấu thơ. Ở đó, có mẹ giặt đồ, có bà gội đầu, có đám trẻ con nhảy bùm từ trên cây xuống sông, có tiếng í ới với nhau từ bến này sang bến khác. 

Trài qua hàng chục năm, đến nay cuộc sống của người dân đã khấm khá hơn, nhưng nhiều nhà vẫn giữ nếp tắm và giặt trên sông.
Cứ khoảng 20m lại có một bến nước như thế này
Dọc theo dòng Kiến Giang, bạn sẽ dừng chân thăm nhà xưa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở làng An Xá, xã Lộc Thủy. Cũng như bao ngôi nhà thuở xưa của vùng đất này, ngôi nhà được bao quanh bởi hàng rào xanh ngắt và đều tăm tắp. Bước qua chiếc cổng gỗ lợp mái tranh, bạn sẽ thấy ngôi nhà giản dị vách gỗ với cây cau, cây vú sữa và mấy luống hoa cải. 

Hàng chục năm nay, những người phương xa vẫn thường đến đây để thăm ngôi nhà đã sinh ra vị tướng tài ba của mọi thời đại. Tuy nhiên, cũng như bến nước thanh bình, ngôi nhà vẫn giữ nguyên khung cảnh đơn sơ, sự tĩnh lặng, và thời gian là bất tận ở nơi đây.
Cổng nhà cũ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
  
Ngôi nhà giản dị trong chiều xuân
Cách đó không xa là đền An Xá. Ngôi đền không chỉ nối tiếng với việc đứng vững trong khói lửa Bình Trị Thiên mà còn có những cây cảnh với hình dáng rất độc đáo. Trong số các cây dừa quanh đền, còn có một cây trổ hai ngọn hay cây bưởi hình ba chân.
Đền An Xá
Trong chuỗi hành trình này, nếu còn thời gian, bạn có thể chạy xe thêm vài km để chiêm ngưỡng phong cảnh đẹp như mơ của đường mòn Hồ Chí Minh qua địa phận huyện Lệ Thủy.
  

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch sinh thái động Tú Làn- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Xã Tân Hóa - huyện Minh Hóa
Sau nửa ngày lầm lũi giữa rừng già miền tây Quảng Bình, đoàn thám hiểm “tay ngang” không khỏi loá mắt vì phấn khích và ngưỡng mộ trước vẻ đẹp mê hoặc và kỳ bí của những hang động mới được phát hiện, nằm chênh vênh trên triền núi.

Những rặng đá xếp lớp như cuốn cổ thư, nơi ghi lại những hoạt động địa chất hàng triệu năm nay
  
Rặng nhũ đá soi mình trong dòng nước xanh mát chảy ra từ những mạch ngầm trong lòng núi đá vôi
  
Những mầm sống vẫn âm thầm sinh sôi trên đá
  
Vẻ đẹp trinh nguyên của động sông ngầm Tú Làn đang chờ dấu chân người thám hiểm
  
Nằm chênh vênh trên vách núi cách động sông ngầm Tú Làn chừng 100m, động chưa rõ tên này được cho là nơi hợp lưu giữa 2 "rục" (sông ngầm) lớn nhất trong vùng
  
Cách đó chừng 30 phút đường rừng, động cạn Tú Làn toát lên vẻ đẹp hoang sơ đến kỳ bí
 
Cửa hang nhỏ, nhưng càng vào sâu vòm hang càng rộng và cao hun hút
  
Những rặng thạch nhũ nhiều hình dáng, kết quả của tác phẩm điêu khắc hàng triệu năm của tạo hóa
  
  
   
   
  
 
Đã nhiều lần chiêm ngưỡng vẻ đẹp động Phong Nha, nhiều người trong đoàn khảo sát vẫn không khỏi trầm trồ trước rặng thạch nhũ mê hoặc của Tú Làn
  
Những giọt nước mang theo khoáng chất vẫn miệt mài luồn qua vách đá...
  
...để bồi đắp cho rặng nhũ non
  
Những nấc thang tự nhiên khiến nhiều người liên tưởng tới ruộng bậc thang của đồng bào miền ngược
  
Nhưng cũng có người cho đó là sân khấu, bởi ngay cạnh đó là chiếc đàn đá tự nhiên nơi phát ra những âm thanh đồng vọng trong không gian vòm
  
Nền hang được các dòng nước cổ khắc thành hoa văn kỳ lạ
  
Sâu trong lòng hang, nơi con người cũng cảm thấy khó thở, mầm non vẫn đâm chồi như một cuộc đấu tranh giành quyền sống
  
Trên đường vào Tú Làn, động hang ngầm (chưa rõ tên) nằm án ngữ sau những dòng thác hung hãn và kiêu bạc
  
Mảnh đất này vẫn còn nhiều bí ẩn sau những rặng đá vôi tưởng như khô cằn và vô cảm

Nguồn: quangbinh

Điểm du lịch sinh thái Hang Tối- Sông Chày- Quảng Bình



Vị Trí và Đặc điểm
Địa chỉ: Thuộc quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng
Nằm trong chuỗi các hoạt động của Tuần Văn hóa – Du lịch Quảng Bình năm 2011, ngày 05/6, tại Di sản thiên nhiên thế giới, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng sẽ tổ chức khai trương tuyến du lịch “Sông Chày – Hang Tối” nhằm giới thiệu đến du khách vẻ đẹp độc đáo, ấn tượng của thiên nhiên nơi đây.
Sông Chày là phụ lưu của sông Son có chiều dài khoảng 10 km, dòng chảy hiền hòa, làn nước trong xanh và nhiều loại cá đặc hữu như: Cá dầy (Cyprinus centralus), cá gáy hoa (Cyprinus sp), cá Phong Nha (Chela quangbinhensis) và cá Nghét (Hemibagrus vietnamensis). Sông Chày giấu mình giữa những vạt rừng Phong Nha với hệ thống hang Vòm như: Thiên Đường, Mẹ Bồng Con, Hang Tối…
Hang Tối được người dân địa phương phát hiệt từ rất sớm, trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước và được bộ đội, người dân địa phương sử dụng làm nơi trú ẩn để tránh bom. Năm 1992, Hiệp hội thám hiểm Hang động Hoàng gia Anh tiến hành khảo sát, vẽ bản đồ và đã đo được Hang Tối có chiều dài nằm ngang 5.558m, độ sâu 80m, cao 50m. Đặc biệt, ngày 09/01/1995, nhà khoa học người Nga L.Deharveng đã sưu tầm, phát hiện và công bố tiêu bản một loài cua mới ở Hang Tối, đặt tên khoa học là Nemoron nomas. Mẫu vật đang lưu giữ tại Bảo tàng Động vật Bộ môn Động vật học Đại học Quốc gia Singapore.
Dưới đây là một số hình ảnh về tuyến Sông Chày – Hang Tối của Nhiếp ảnh gia Thành Vương:
Thưởng ngoạn Sông Chày
    
Bình minh làng Na
    
Làm nghề truyền thống trên Sông Son
    
Cảnh sinh hoạt của người dân thôn Trằm – Mé trên Sông Chày
        
Dòng Sông Chày uốn mình trong những dãy núi Phong Nha – Kẻ Bàng
            
Thiếu nữ vui đùa trên Sông Chày
           
Những chóp đá bị phong hóa đã tạo nên phong cảnh Kast trên Sông Chày
          

Nguồn: quangbinh