Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Nẳng - Nhà Thờ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đà Nẳng - Nhà Thờ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Nhà Thờ Giuse Thợ- Đà nẳng

Vị Trí
Địa chỉ :      117 Ngô Quyền, Q. Sơn Trà.
Chánh xứ :
Tel

E-mail

Năm thành lập

Bổn mạng

Số giáo dân

Giờ lễ
Chúa nhật     : 
Ngày thường : 
Lịch sử
Lược sử Giáo xứ Giuse Thợ
< đang cập nhật >

Nhà Thờ An Thượng- Đà Nẳng


Vị Trí
Địa chỉ :      Sau Trường Đại học Kinh tế, Quận Ngũ Hành Sơn
Chánh xứ : Linh Mục Phanxicô Salêsiô Lê văn La VINH
Tel

E-mail

Năm thành lập

Bổn mạng

Số giáo dân

Giờ lễ
Chúa nhật     : 7:00
Ngày thường : 7:00
Lịch sử
Lược sử Giáo xứ An Thượng
< đang cập nhật >

Nhà Thờ Hoà Cường- Đà nẳng


Vị Trí
Địa chỉ :   150 Nguyễn Hữu Thọ, Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng  
Chánh xứ : Linh Mục Phêrô Nguyễn Hùng
Tel
0511 3618686
E-mail

Năm thành lập
 1958
Bổn mạng
 Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời
Số giáo dân
 568
Giờ lễ
Chúa nhật     :  6:00   -   17:00
Ngày thường : 18:00
Lịch sử
Lược Sử Giáo xứ Hòa Cường
I. HÌNH THÀNH
Trên những gò đất cao nhấp nhô liên tiếp nhau, lau sậy đan xen dày kín, thỉnh thoảng những cơn gió tạt qua mang theo hơi nóng của nắng và hương nồng của cỏ. Vùng đất cao khô cứng và dày lau sậy này, tưởng chừng như lụt chẳng đến được nơi, bỗng một ngày nắng ấm reo vui, êm dịu tiết trời và bình minh thức giấc, chào đón những con người đầu tiên đặt chân lên vùng đất này (xưa là vùng đất Duy Tân Liên Trì Nam, nay là Hoà Cường)... Đó là những người ngoài Bắc di cư vào (1954), cộng với những người công giáo từ trong Nam đến lập nghiệp ở đây. Gia đình họ phần đông thuộc lính trung đoàn 5, trung đoàn 6. Họ cần mẫn vạch lùm lách tìm lối đi, họ chăm chỉ cuốc từng mảnh đất khô cứng, họ nhẫn nại phá đồi hoang cho bằng phẳng dựng nhà để ở. Thoạt đầu là những căn nhà đơn sơ dựng tạm bằng mọi vật liệu có sẵn như tranh, tôn, ván v...v.... Họ là những người sống đạo rất sốt sắng, ngay từ những ngày đầu họ đã cùng nhau nhóm họp để đọc kinh sớm tối
Năm 1958, vì nhu cầu thiêng liêng của giáo dân đang sống tại vùng đất này, Đức Giám Mục Giáo Phận Đà Nẵng bổ nhiệm Cha Phêrô Phan Văn Hiển làm quản xứ. Vị linh mục tiên khởi này đã cùng một số giáo dân ở đây mua khu vườn của người ta, dựng nên Nhà thờ và ngôi trường lợp tôn, ghép ván, nền xi măng. Đây chính là thời điểm đánh dấu khai sinh Giáo xứ Hoà Cường.
Dù còn thiếu thốn và nghèo khó, Cha Hiển vẫn luôn chu toàn sứ mệnh chăm lo đời sống tâm linh của con chiên. Phụ giúp Cha lúc đó có cụ Tạc, cụ Thường làm ông Trùm, ông Quản. Qua 12 năm mục vụ, Cha Hiển thành lập được hội NỮ ĐOÀN BÁC ÁI, rửa tội trên 150 người và cắt đặt Ban Đại Diện giáo dân.
II. HƯNG THỊNH VÀ PHÁT TRIỂN
v Năm 1970, Cha già Hiển về Toà Giám Mục, Cha Dôminicô Nguyễn Ngọc Giác được bề trên sai đến coi sóc giáo dân (Cha Giác là tuyên uý không quân). Thời gian này, giáo dân rất đông, toàn là người có đạo Bắc 54, người lương rất ít. Chính vì thế, mà nơi này còn có thêm một tên gọi quen thuộc với dân địa phương đó là khu Chợ Bắc (vì toàn dân Bắc 54).
Một năm sau, Cha Giác cho xây dựng lại Nhà thờ mới khang trang: lợp ngói, tường xây và nền xi măng. Trường học được xây lại có tên là Trường Thánh Giuse, gồm 2 tầng có 8 phòng học. Cha mời các Sơ Dòng Kim Đôi Huế về ở hẳn và lo việc dạy dỗ cho các em. Tất cả các em đều về học ở đây không phân biệt lương giáo.
Năm 1974, Cha đưa một số giáo dân, trong đó có các ông Trùm, ông Quản di dân lập ấp ở Lâm Đồng.
Qua 4 năm mục vụ, nhờ sự đóng góp mạnh mẽ tinh thần lẫn vật chất của chủ chăn và đàn chiên, Giáo xứ phát triển nhiều mặt, Cha rửa tội trên 150 người, thành lập Đội Hùng Tâm Dũng Chí sinh hoạt rất hùng mạnh.
Giúp việc cho Cha có ông Xếp Khoan, ông Vị. Bà Khảm, bà Chức lo việc ăn uống cho Cha và các Cha khách. Bà Hảo thì tập múa, dâng hoa, bà Quản xướng và dạy kinh Bổn. Các cuộc rước kiệu ĐỨC MẸ và đọc kinh tại các gia đình vẫn tổ chức thường xuyên. Cái hay của giáo xứ bấy giờ là hương đồng cỏ nội, trang trí các ngày lễ trọng Chúa nhật và dâng hoa đều là “chân chất hương quê”. Mọi thành phần tham gia đều bỏ công sức đi tìm và hái đủ loại hoa, màu hoa chứ không sẵn hoa mua ở chợ như bây giờ. Thế mới hay, hoa không chọn nơi đẹp đến ở, mà nơi nào có hoa nơi ấy đẹp cách lạ lùng, tự nhiên, làm say đắm lòng người.
III. THỬ THÁCH
v Năm 1974, tình hình đất nước “rộn ràng”, Cha Giác đem theo một số đông giáo dân (trong đó có cả ông Trùm, ông Quản) di dân lập ấp ở Lâm Đồng.
Trước hoàn cảnh Giáo xứ trống chủ chăn, Đức Giám Mục Giáo Phận sai phái Cha Phêrô Tống Kiên Hùng đến đây coi sóc số ít giáo dân còn lại.
Sau biến cố năm 1975, nhà thờ đóng cửa vì hoàn cảnh xã hội mới, chỉ mở cửa mỗi ngày Chúa Nhật. Ở đây, Cha chỉ được làm lễ và sinh hoạt với các em giáo lý. Lúc này, Cha cắt đặt lại Hội Đồng Giáo Xứ : ông Chức (Chủ tịch), ông Khiết, ông Cảnh, ông Xuân…
Quản xứ Hoà Cường, Cha rửa tội thêm 50 người, ban bí tích Thêm Sức cho 40 người.
Do nhu cầu Giáo Dục, ngày 20/9/1975 Cha Hùng đã cho chính quyền mượn 4 phòng học (tầng trệt) để dạy học. Trường thánh Giuse đổi tên thành Trường tiểu học Nguyễn Du (cơ sở 2). Nơi ở và cơ sở dạy trẻ của các Sơ Kim Đôi giải tán.
Thời gian này, Cha gặp rất nhiều khó khăn trong mục vụ. Bị bắt buộc, Cha Hùng đành rời xa giáo xứ. Nhà thờ hoang vắng, buồn tênh, không có thánh lễ, cũng không có câu kinh tiếng nguyện, những giáo dân còn ở lại thấy trống trải, cô đơn, chỉ còn nhớ về một thời đông đúc, rộn ràng các sinh hoạt đạo đức. Ngôi Nhà thờ trở nên vắng lặng nhỏ bé hơn, lẻ loi đứng buồn rầu nhớ từng con người xưa cũ...
Phải mất một thời gian lâu sau đó, mới có các cha trong Địa Phận được phái đến giúp giáo xứ vào ngày Chúa Nhật và ban các bí tích như Cha Giuse Ngô Đình Chính, Cha Bênađô Phan Văn Hoàng, Cha Alexis Lê Trung Hậu, Cha Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh, Cha Phêrô Nguyễn Lân Mẫn, Cha Antôn Trần Văn Trường.
Lúc này chẳng còn ban Đại diện giáo dân, nhưng một số người tâm huyết với Nhà thờ vẫn còn làm việc như ông Lành (Chủ Tịch), ông Thế, ông Công, ông Cầm, ông Kim, ông Mông, ông Nhơn, anh Khanh… Những người nhiệt thành này lo sổ sách và các việc nhà thờ. Họ rất vất vả vì phải chạy xin từng nơi, trong các dịp Đại lễ cũng như trong mục vụ các Bí Tích, phải đưa đón các Cha khách liên tục.
Giúp mục vụ trong thời gian khó khăn này, có Thầy Fx Lưu Văn Hoàng (nay là cha quản xứ Gia Phước), thầy Sa, chị Vang, anh Trí… cùng đội ngũ anh chị em ở Giáo xứ Thanh Đức và Giáo xứ Chính Tòa đã đóng góp công sức rất nhiều trong sinh hoạt như dạy giáo lý, tập hát và tập múa cho các em.
IV. ĐỔI MỚI VÀ ĐI LÊN
v Năm 1990, tình hình đất nước đổi mới. Sau những năm tháng dài không có chủ chăn, Đức Giám Mục Giáo Phận bổ nhiệm Cha André Tôn Thất Phái làm quản xứ. Ban Đại Diện giáo dân lâm thời được đặt ra để làm việc với Cha. Cha cùng giáo dân sửa lại tường rào Nhà thờ, đóng thêm bàn ghế, sửa sang nhà Chúa thêm khang trang. Giáo xứ ổn định và trở lại nề nếp sinh họat như xưa.
Năm 1994, Cha bầu lại ban Đại diện giáo dân chính thức. Ông Vũ Minh Hiếu làm chủ tịch. Cha chia Giáo xứ thành 2 Giáo khóm: Khuê Trung và Hoà Cường, mỗi Giáo khóm đều có Khóm Trưởng và Phó. Cha thành lập ca đoàn Cécilia (nay là ca đoàn Kitô Vua), ban Lễ sinh và mở các lớp Giáo lý. Cha xin Dòng Thánh Phaolô Đà Nẵng cho 2 Sơ đến giúp Giáo xứ là Sơ Tin, Sơ Phi, mỗi sáng Chúa Nhật và hai buổi trong tuần, các Sơ dạy Giáo lý và tập hát cho các em. Tuy vậy, việc dạy và học Giáo lý gặp nhiều khó khăn về trường lớp, không có lớp các em phải học trong Nhà thờ, ngoài sân hoặc dưới gốc cây. Còn Trường cơ sở Nguyễn Du thì gây bất tiện ồn ào cho giáo dân đang tham dự Thánh Lễ hoặc cầu nguyện, đọc kinh, cao điểm là giờ các học sinh ra chơi và tan học.
Năm 1995, với sự cộng tác của một kiến trúc sư người Công giáo, Cha kêu gọi giáo dân đóng góp công của để làm mới lại Nhà Thờ.
Năm 1996 là năm quan trọng, Cha và toàn bộ giáo dân đặt trọng tâm vào việc khởi công xây dựng Nhà thờ mới.
Ngày 15/8/1997 (Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời) được chọn là ngày Bổn Mạng của Giáo xứ và là ngày Khánh Thành Nhà thờ mới. Nhà thờ Hoà Cường mới kiến trúc không tân kỳ, nhưng vươn lên xinh xắn có diện tích 240m2­­­, cao10m, một tháp chuông cao 12,5m rung lên từng hồi kiêu hãnh. Đức Giám Mục vì lý do sức khoẻ không đến được, đã cử Cha Tổng Đại Diện Antôn Trần Văn Trường thay mặt, cắt băng khánh thành. Ngoài ra còn có quý Cha khách về dâng lễ đồng tế và đông đảo bà con giáo dân vui mừng tạ ơn Thiên Chúa đã quan phòng.
Thời gian Cha Phái quản xứ, Giáo xứ phồn thịnh, đông đúc và vui vẻ hẳn lên. Cha đặc biệt quan tâm đến người nghèo và trẻ em không phân biệt lương giáo. Cha cho vài em trong Giáo xứ học đàn ở trường Thánh Tâm (dòng Phaolô Đà Nẵng) để sau này giúp Giáo xứ. Ngoài ra còn phát quà cho người nghèo vào mỗi dịp lễ như Giáng Sinh, Tết… Cùng phụ giúp Cha còn có ông Hiếu (Chủ Tịch), ông Thưởng, ông Tuấn (phó Chủ Tịch), bà Hường (thủ quỹ), ông Vinh, anh Vinh, chị Lệ (phụng vụ)… Các Sơ dòng Phaolô Đà Nẵng cũng góp công rất tích cực như Sơ Tâm, Sơ Bích, Sơ Chiêu, Sơ Huê… kiêm nhiệm hết các việc như tập múa, cắm hoa, soạn và hướng dẫn nghi thức đi Đàng Thánh Giá, Chầu Thánh Thể v…v…
Con số giáo dân lúc này khoảng 220 người, Cha Phái Rửa tội cho 115 người, ban Bí Tích Thêm Sức 58 người, ban Bí Tích Hôn Phối cho 31 đôi.
v Ngày 10/4/2001 Cha Giuse Ngô Đình Chính được bổ nhiệm thay thế Cha Phái (về hưu). Nhận xứ chẳng bao lâu Cha phải đương đầu với những khó khăn mới phát sinh. Cùng gánh vác với cha trong giai đoạn khó khăn này có ông Văn, chị Tuyết, anh Thắng, chị Lệ…
Do chỉnh trang lại đô thị nên giáo dân phải di dời nhà cửa, số còn ở lại thì do đường sá quy hoạch ngổn ngang, lồi lõm, gồ ghề, đoạn đường ngay mặt tiền Nhà Thờ cũng bị ảnh hưởng nặng nề, gây khó đi, nên giáo dân tiện đâu đi đó, nhất là giáo khóm Khuê Trung, đường đi rất khó khăn, chỉ cần mưa một buổi là họ phải đi bằng đò… Lễ thường ngày trở nên vắng dần giáo dân, chỉ có vài người, hôm nào đông nhất thì được hơn 10 người. Họ chỉ tham dự Thánh Lễ vào mỗi Chúa Nhật mà thôi…
Cùng thời gian này, xảy ra việc tranh chấp đất Trường Nguyễn Du giữa giáo dân Giáo xứ Hoà Cường và Trường tiểu học Nguyễn Du.
Ngày 11/4/2005, Đức Giám Mục Giáo Phận Đà Nẵng Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh bổ nhiệm Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Ngọc Hiến về quản xứ. Nhận xứ với những khó khăn trăm bề trước mắt, Cha đã hăng hái bắt tay vào việc.
Ngay ngày đầu Cha cho sửa sang lại nhà xứ đã xuống cấp cho sạch sẽ tươm tất, có nơi làm việc và tiếp đón giáo dân khi cần. Cha cho đập bỏ hai bức tường ngăn nhà xứ và Nhà thờ, sửa lại khuôn viên và làm lại cổng mới, sửa chữa lại 8 phòng học, đóng bàn ghế học sinh…
Tháng 5/2005 Cha chính thức bổ nhiệm Ban Đại Diện Hội Đồng Giáo xứ và ra mắt giáo dân, gồm 12 vị:
Anh Giuse Tống Viết Báu (Chủ Tịch)
Chị Maria Trần Thị Năm (Phó Chủ Tịch)
Anh Ph. Xaviê Hà Thúc Dũng (Phó Chủ Tịch)
Chị Anê Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Thư ký)
Anh Giuse Đỗ Đức Thắng (Thủ Quỹ)
Chị Mátta Trần Thị Hường (Giáo khóm I)
Ông Philipphê Lê Văn Hùng (Giáo khóm II)
Ông Gioan Phùng Đức Huy (Gia Trưởng)
Chị Têrêxa Trần Thị Ngọc Anh (Mẹ Gia Đình)
Anh Gioan Baotixita Trần Thành (Thanh Niên)
Chị Anê Trần Thị Mỹ Lệ (Thiếu nhi, Giáo lý)
Anh Mátthia Ngô Minh Hoàng (Ca đoàn)
Chọn đúng người, giao đúng việc, họ trở nên cánh tay đắc lực của Cha. Các đoàn thể, các giới cũng lần lượt ra đời như hội Legio (tái thành lập), các lớp Giáo lý (tái thành lập), Lễ sinh (tái thành lập), giới Hiền Mẫu, giới Người Cha, ban Bác ái Xã Hội, ban Trợ Tang, hội Bác ái Vinh Sơn, nhóm Tác Nhân Tin Mừng, Giới trẻ, Ca đoàn Thánh Thể (Thiếu niên), Ca đoàn nhỏ, Ca đoàn Monica (mẹ chị), lớp học đàn organ….
Mỗi sinh hoạt hội đoàn, giới, ban đều có phòng khang trang sạch sẽ. Các em không còn học ngoài trời hay dưới gốc cây nữa… Các ban, ngành, hội đoàn làm việc rất có tổ chức và cơ cấu chặt chẽ, thường họp định kỳ để báo cáo công việc đã làm và lên kế hoạch cho công việc sắp đến.
Sinh hoạt đạo đức ngày càng đi lên, mọi gia đình ở đây đã ổn định, dân các nơi khác về cũng nhiều. Đất lành chim đậu, giáo dân đi lễ ngày thường tăng dần. Chúa Nhật có hai thánh lễ và lúc nào giáo dân cũng ngồi tràn ra sân Nhà Thờ. Chầu Thánh Thể mỗi thứ năm đầu tháng (do các giới thay nhau phụ trách). Tổ chức tập trung đọc kinh tối tại các gia đình ban tối tháng Hoa và tháng Mân Côi, các ngày kỵ giỗ, cầu hồn, đám tang, cầu cho các bệnh nhân…
Tưởng chừng như vùng đất ngủ mê đến khô cằn mất sự sống, sau những tiếng gọi mạnh mẽ đã thức dậy vươn mình. Cha cho xây thêm Đền Đức Mẹ để có nơi tôn kính và kinh nguyện. Đền Mẹ được xây trên khuôn viên phía sau Nhà Thờ với diện tích 50m2, tượng Mẹ cao1m40, được đặt trên bệ cao 1m20, chung quanh Đền Mẹ trồng cây cảnh và một vườn lá hoa dùng để cắm hoa. Khung cảnh và sự yên tĩnh nơi đây làm ấm lòng những ai chạy đến cùng Mẹ, và cũng từ nơi này, ơn lành của Chúa qua tay Mẹ cũng tuôn trào như mưa.
Thứ Bảy, ngày 6/5/2005 (nhân dịp khai mạc tháng hoa Mẹ), lễ Khánh Thành Đền Mẹ và Tạ ơn đã được cử hành trọng thể.
Ngày 1/10/2006, cơn bão số 6 Xangshane tràn về hung hăng và dữ tợn trên đất Quãng Đà, gây thiệt hại về người và của, Giáo Xứ Hoà Cường cũng cùng chung cảnh ngộ. Sau những gì xây dựng, nhà xứ và cả trường học (trên lầu) bị dỡ tung hết mái. Bờ tường chung quanh Đài Mẹ bị sập đổ.
Ơn Chúa và Mẹ Maria lại ban dồi dào, bù trừ cho những mất mát, thiệt hại. Từ hai bàn tay trắng tưởng chừng như phải bỏ mặc, nay Chúa lại cho dư ra nhờ những bàn tay nhân ái và tấm lòng rộng mở gần xa. Nhà xứ được lợp lại thành một mái, các phòng học cũng được lợp và sửa sang lại.
Cũng trong dịp này, được sự đồng thuận giữa chính quyền Thành phố và giáo xứ, sau khi cắt đi một góc trường học để đặt ống nước và làm vĩa hè đường Nguyễn Hữu Thọ, Cha cho mở thêm một cửa lớn, tạo thêm một mặt tiền quay ra đại lộ 36m. Trên nóc nhà trường, giữa hai mái vòm cong giao nhau là một cây Thánh Giá thẳng đứng, đơn giản mà uy nghi, xác định quyền sở hữu đất của giáo xứ Hòa Cường.
Đêm giáng sinh 24 tháng 12 năm 2006, một chương trình canh thức và Thánh Lễ được cử hành trọng thể, được tổ chức ngoài trời lần đầu tiên, long trọng và hoành tráng tại Lễ đài trước Đền Đức Mẹ, với đông đảo bà con giáo dân và cả người lương tham dự, trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và Mẹ Maria.
Sưu tầm

Nhà Thờ Nhượng Nghĩa- Đà nẳng


Vị Trí
Địa chỉ :     Đường Trần Hưng Đạo, tổ 14 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà ,Tp Đà Nẵng
Chánh xứ : Linh Mục Phê Rô Lê Hưng
Tel

E-mail

Năm thành lập

Bổn mạng

Số giáo dân

Giờ lễ
Chúa nhật     : 5:30   -   8:00
Ngày thường :
Lịch sử
Lược sử Giáo xứ Nhượng Nghĩa
Giáo xứ Nhượng Nghĩa nằm trên đường Trần Hưng Đạo, tổ 14 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà ,Tp Đà nẵng , sát bờ sông Hàn,ngay khoảng giữa cầu Sông Hàn và cầu Thuận Phước.
Nhượng Nghĩa là tên ghép của 2 giáo xứ gốc ở giáo phận vinh, xứ Nhượng Bạn và Trung Nghĩa , những Giáo Dân đầu tiên đặt dấu chân khai sinh và thành lập giáo xứ đa phần đều từ hai xứ đạo này vào.
Sau nạn đói khủng khiếp 1945 , có 12 nooc ( lọai thuyền bằng gỗ vừa làm phương tiện đánh cá vừa làm nơi sinh hoạt gia đình) chở 12 hộ gia đình đầu tiên đến neo đậu tại Bến Mía ( đoạn từ Đường Thái Phiên đến Chợ Hàn ngày nay ) ban ngày đàn ông đi đánh cá, phụ nữ và trẻ em làm thuê ở chợ và khu vực lân cận. Đêm đến , thuyền về neo đậu làm chổ ở , có lúc cùng nhau neo đậu ở cồn cát nổi giữa sông ( cuối đường Nguyễn Công Trứ ngày nay ). Cùng nhau đọc kinh , Lần Hạt xin Chúa , Đức Mẹ hộ phù ban muôn ơn , cùng bảo vệ nhau, ngày Chúa Nhật dự lễ ở nhà thờ Đà Nẵng ( nay là nhà thờ Chính Tòa ).
Năm 1950 : do chiến tranh , mất mùa , có thêm hơn 30 hộ đi bằng nhiều thuyền đến dựng chòi lă bên Đình An Hải.
Năm 1953 : chính quyền lúc bấy giờ cho số dân sống dưới thuyền được đến định cư dựng chòi tại nổng cát Nại Hiên , số cư dân này đã làm một nhà nguyện nhỏ bằng tranh tre để họp nhau đọc kinh.
Năm 1954 : sau ngày ký hiệp định Giơ ne vơ một số người ở Quảng Bình được tàu há mồm của Pháp chở vào Đà Nẵng
Sau 3 đợt định cư , số dân hơn 350 người. Dưới sự hướng dẫn Cha Giu Se Phạm Trọng Điều
GIÁO XỨ NHƯỢNG NGHĨA CHÍNH THỨC ĐƯỢC THÀNH LẬP.
Cuối năm 1954 giáo dân tăng lên 500 người, Năm 1956 : xây nhà thờ đầu tiên thay thế nhà nguyện tranh tre lá. ( có 2 cánh 2 bên , người dân quen gọi nhà thờ tàu bay ) năm 1959 theo niên giám giáo phận ghi nhận có 789 người. Chia làm 2 chi họ : chi họ Phú Lộc bên phía trái nhà thờ gồm Giáo Dân của các xứ Văn Phú ( Quảng Bình ) , Lộc Thủy ( Hà Tĩnh ). Chi họ Nhượng Hòa bên phải nhà thờ gồm Giáo Dân các xứ Nhượng Bạn ( Cửa Lò ) , Mỹ Hòa , Quy Hòa ( Kỳ Anh – Hà Tĩnh ) và Mỹ Hòa , Quy Hòa Quảng Bình.
Từ năm 1956 đến 1966 : Cha quản xứ và toàn thể giáo dân ra sức xây dựng quê hương mới ngày càng tôt đẹp :giáo dục văn hóa cho con em, xây trường tiểu học 18m x 5m chia làm 3 lớp học, tổ chức học thi khảo kinh sách , lập khu nghĩa trang , xây chợ , đào nhiều giếng nước công cộng có đường kính lớn 2m ở các vị trí khác nhau , lập Đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể ( 1963 ) , đoàn Hùng Tâm Dũng Chí ( 1966 ) tố chức chạy máy phát điện trong xóm.
Ngày 20/ 8 / 1967 : ngôi nhà thờ mới thay thế nhà thờ tàu bay trên nền móng củ ( 24m x 9m50 ) có tháp chuông cao 18m đúc về bên phải mặt tiền nhà thờ
Lịch giáo phận năm 1968 cho biết có 739 người.
Năm 1970 xây dựng trường tiểu học, 2 tầng 6 phòng học, Thánh Hiệu Giu Se ( nay là mẫu giáo Họa My – canh nhà thờ ) .
Làm nhà ở để mời các Nữ Tu Con Đức Mẹ Đi Viễng đến giúp dạy giáo lý, lo bàn thờ , dạy văn hóa cho các em thiếu nhi…
Trong năm này Cha Giu Se Phạm Trọng Điều già yếu xin về nghĩ hưu dưỡng tại Hòa Yên ( Cam Ranh ) và qua đời tại đó ngày 27/ 2 /1977, an táng tại Đất Thánh Hòa Yên , mộ được xây lại tươm tất 29 / 3 / 2004.
Cha Giu Se Nguyễn Thanh Châu , sinh 7 / 5 / 1935 phó xứ Hội An về quản xứ thay Cha Điều.
Ngài ra Huế tiếp tục mời các Nữ Tu Con Đức Mẹ Đi Viếng đến giúp dạy giáo lý, dọn bàn thờ, dạy học văn hóa , tập hát, nuôi dạy trẻ em nội trú, Trợ Uy cho đoàn Hùng Tâm Dũng Chí, công tác xã hội như thăm các bệnh nhân, cứu trợ nạn nhân bảo lụt…
Để giúp phát triển kinh tế cho giáo xứ , giáo dân , Cha xây dựng cầu sắt neo đậu tàu thuyền ( 1981 bị hư hỏng nặng do ăn mòn của nước mặn) , tàu dầu , bồn dầu , cấp nước, bán cho tất cả tàu thuyền trong ngoài giáo xứ. Xây nhà Hội Quán 6m x 14m để các đoàn thể sinh hoạt hội họp, triển lãm… Cha cho hỗ trợ phát triển tất cả các nghành nghề , lập đoàn Thanh Niên Công Lý và Hòa Bình…
Ngày 25 /11 / 1972 ĐGM PM Phạm Ngọc Chi nâng giáo sở Nhượng Nghĩa thành giáo xứ cùng với các nơi Thanh Bình , Thanh Đức , Nội Hà , Phước Tường , An Hòa , Tam Tòa , Chính Trạch , Sơn Trà, An Hải , Gia Phước… ( theo lịch giáo phận năm 1993 )Cha Châu cũng mời các Cha Dòng Chúa Cứu Thế ( Cha Nguyễn Văn Vàng ) đến thuyết trình đề tài truyền giáo tại trường cộng đồng cho mọi người Lương Giáo cùng nghe .
Cha quan tâm đến người đau yếu, xây nhà phát thuốc miễn phí, làm đường trải nhựa trong giáo xứ… năm 1973 Cha hướng dẫn một số Giáo Dân vào nam trong chương trình khẩn hoang lập ấp , thành lập giáo xứ Hiệp Lực - Đồng Nai .
Từ năm 1973 đến 1975 : Cha Phê Rô Trần Đức Triều đến quản xứ, Ngài chú trọng đến đời sống Đức Tin , đào sâu Đức Ai…
1975 đến 1991 : Cha Giu Se Vũ Văn Trúc , Sinh 20 / 11 / 1939 nguyên quản xứ Ai Nghĩa , Huyện Đại Lộc , Quảng Nam , được bổ nhiệm làm quản xứ, trong hoàn cảnh khó khăn mọi bề, Cha động viên nhắc nhở giáo dân sống tốt đời đẹp đạo.
Sau 1975 số đông giáo dân đi ra nước ngoài, kinh tế mới , về quê cũ … còn lại 300 người. Cha đã mời hai Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá là Chị Maria Lê Thị Giáo và Ma.Madalena Phan Thị Hoàng Anh đến giúp xứ thay các Chị dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng trở về Nhà Mẹ ( Huế ).
1976 : thành lập ban trợ tang, mua xe tang để đưa Linh Cữu đến nghĩa trang
1989 : xây bờ rào sau nhà thờ ,
1990 : dời Đài Đức Mẹ ở sân trước nhà xứ lên bên hông trái nhà thờ.
Cha cũng cố các hội đoàn, giới Thanh Niên , Thiếu nhi , Giáo Lý Viên, lập nhóm Con Đức Mẹ với tên gọi Nhóm Tận Hiến
3 / 1990 : thống kê được 520 người , nhờ một số ở các vùng kinh tế mới quá khó khăn hồi hương trở về.
Hai giáo họ Phú Lộc - Nhượng Hòa được đổi tên thành giáo họ Thánh Tâm – Thánh Mẫu
Trong các dịp lễ Giáng Sinh , Phục Sinh đều có diễn hoạt cảnh Thánh Ca giúp mọi người Tín Hữu thêm phần sốt sắng.
Cha cũng vận động Giáo Dân trong và ngoài nước hỗ trợ trùng tu nhà thờ vì qua 23 năm sử dụng xuống cấp trầm trọng. Sau hơn 1 năm vạn động , mọi kinh phí dự kiến đã đủ , chỉ chờ khởi công . ngày 07 / 5 / 1991 vâng lời ĐGM, Cha Giu Se Vũ Văn Trúc được thuyên chuyển đến giáo xứ Gia Phước.
1991 đến 2004 :Cha Giu Se Ngô Đình Chính , sinh 24 / 9 / 1931 nguyên quản xứ Bình Phong – Tam Kỳ , nhận nhiệm sở 7 / 5 / 1991
Ngài tiếp tục công trình trùng tu nhà thờ với kích thước 30m x 9m 50 , tháp chuông cao 23m ngay giữa, 7 / 12/ 1991 hoàn thành.
1 / 1/ 1992 ngày lễ cầu cho hòa bình thế giới , Đức Maria Mẹ Thiên Chúa , ĐGM Fx Nguyễn Quang Sách đà Cung Hiến Ngôi Thánh Đường dâng kính Nữ Vương Hòa Bình. Ngài đã đặt xương Thánh F xavie và xương Thánh Nguyễn Duy Khang ngay dưới bàn thờ.
6 / 4 / 1992 khởi công xây hang đá Đức Mẹ 7 / 5 / 1992 khánh thành.
12/ 6/ 1998 : Cha Chính về nghĩ hưu tại nhà hưu dưỡng giáo phận.
12 / 6 / 1998 Cha Giu Se Nguyễn Văn Cử , sinh 10/ 2 / 1947 nguyên quản xứ Thạch Nham nhận coi sóc giáo xứ. Cha quan tâm đến nhóm gia đình trẻ, gia đình Khôi Bình, sinh hoạt Chia Sẻ Lời Chúa tối thứ tư và Chúa Nhật hằng tuần, gởi nhân sự tham dự các khóa bồi dưỡng sư phạm giáo lý dạy Dự Tòng , Thêm Sức… cũng cố Hội Đoàn dần đi vào nề nếp , cách riêng legio Mariae gồm có Hoạt Động và Tán Trợ.
Tổ chức phát thưởng khuyến học , học bổng cho các em nghèo , mồ côi hiếu học.
07 / 10 / 1998 khởi công xây dựng nhà xứ.
11/11/1998 : hoàn thành tầng trệt nhà xứ , nhà giáo lý.
Cuối năm 1999 đầu năm 2000 , một xáo trộn lớn do quy hoạch chỉnh trang đô thị. Con đường Bạch Đằng Đông ( nay là đường Trần Hưng Đạo ) đi ngang qua, các gia đinh giáo dân không còn sống tập trung , mà di dời tản mác khắp nơi trên bán kính 1 km .
14/2/2000 khởi công xây tầng 1 nhà xứ ,
12/4/2000 cộng đồng Dân Chúa cầu nguyện cho Cha Giu Se Nguyễn Văn Cử trong dịp mừng Ngân Khánh Linh Mục, lúc đó Ngài đang tĩnh tâm ở dòng Châu Thủy – Bình Tuy.
Trong thời gian Cha Cử đi vắng , TGM bổ nhiệm Cha F Assisi Lưu Văn Hoàng , sinh 30/10/1959 làm quản nhiệm trong 6 tháng.
05/ 10/ 2001 Cha F xavie Nguyễn Văn Thịnh , sinh 10/4/1957 , nguyên phó xứ Chính Tòa , về quản xứ .
19/8/2003 Cha Phê Rô Nguyễn Ngọc Phi , sinh 23/4/1967 , nguyên phó xứ Gia Phước, về làm phó xứ Nhượng nghĩa.
Các Cha đã cố gắng canh tân đời sống đạo và sinh hoạt trong giáo xứ theo mô hình giáo xứ hiệp thông mà liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã đề xướng cho Giáo Hội Á Châu.
Mở các lớp Linh Hoạt Viên , sư phạm Giáo Lý , mời các Nữ Tu Dòng Phao Lô về thuyết trình cho giới Hiền Mẫu, thành lập ca đoàn Mônica.
Giới Người Cha, giới Thanh Niên sinh hoạt đều đặn hơn, tổ chức nhiều buổi cắm trại cho nhiều giới , các trò chơi , thi đua , tổ chức văn nghệ trong các dịp lễ …
Dịp lễ Phục Sinh 2003 , sơn lại nhà thờ lần thứ nhất và lát gạch men tầng 1 nhà xứ.
Năm 2004 : để chuẩn bị cho dịp kỷ niêm 50 năm thành lập giáo xứ , các Cha đã phát đông phong trào tìm hiểu lịch sứ giáo xứ , sáng tác thơ văn , nhạc họa , tâm tư tình cảm đối với giáo xứ… chuẩn bị cho tập kỷ yếu giáo xứ . lập đội đàn Mandolin
Mua sắm thêm thiết bị âm thanh …
Thường xuyên các việc đạo đức , đọc Kinh Thánh theo tập 5 phút Lời Chúa mỗi ngày, đọc kinh gia đình luân phiên trong Giáo Họ trong tháng 5 ( Tháng Hoa ) và tháng 10 ( Mân Côi ), chầu Thánh Thể thứ sáu đầu tháng…
6 / 2004 Cha F xavie Nguyễn Văn Thịnh đi du học nước ngoài,
24 / 7 / 2004 Cha Phê Rô Nguyễn Ngọc Phi phó xứ được ĐGM bổ nhiệm làm quản xứ Nhượng Nghĩa. Cha đã đặt làm mới tượng Thánh Phê Rô , tượng Đức Mẹ Ban Ơn tại trung tâm tháp nhà thờ.
5 / 9 /2005 : Cha Phê Rô Lê Hưng , sinh 26 / 3 / 1945. thụ phong Linh Mục 13 / 4 / 1975. nguyên quản xứ An Sơn – tỉnh Quảng Nam, được ĐGM bổ nhiêm quản xứ thay Cha P. Nguyễn Ngọc Phi. Cha từng bước cũng cố các hội đoàn, sửa lại khuôn viên nhà xứ , 2008 xây mới đài và sân Đài Đức Mẹ, lập Giáo Họ Thánh Linh ( Dân sống ở khu vực Vũng Thùng và vùng lân cận )
Để chuẩn bị dịp lễ Mừng Kính hai Thánh Tông Đồ Phê Rô Phao Lô 29 /6 và dịp kỷ niêm 55 năm lập xứ ( 1954 – 2009 ). Cha và Ban Đại Diện Giáo xứ kêu gọi chung tay sơn sửa lại nhà thờ nhà xứ lần thứ 2 , bà con Giáo dân trong ngoài xứ, những Anh Chị Em gốc Nhượng Nghĩa ở mọi miền đất nước cũng như ở hải ngoại hưởng ứng nhiệt tình.
Ngày lễ Thánh Phê Rô – Phao Lô 29 /6 được dời đến Chúa nhật trước 1 ngày ( 28 / 6 / 2009 ) , là ngày hội lớn của mọi ngưỡi Nhượng nghĩa .
Sưu tầm

Nhà Thờ An Hải- Đà nẳng


Vị Trí
Địa chỉ :      9 Nguyễn Công Trứ, TP Đà Nẵng, Đà Nẵng
Chánh xứ : Linh mục Giuse Nguyễn Kinh
Tel
E-mail
Năm thành lập
Bổn mạng
Số giáo dân
Giờ lễ
Chúa nhật     :
Ngày thường :
Lịch sử
Lược sử Giáo xứ An Hải
< đang cập nhật >

Nhà Thờ Nội Hà- Đà nẳng



Vị Trí

Địa chỉ :   40 Đinh Tiên Hoàng, Q. Hải Châu, TP Đà nẳng
Chánh xứ : Cha Phêrô Nguyễn Hùng
Tel

E-mail

Năm thành lập 1954

Bổn mạng

Số giáo dân  1450

Giờ lễ
Chúa nhật     : 
Ngày thường : 


Lịch sử
LƯỢC SỬ GIÁO XỨ NỘI HÀ

          Nhà thờ Giáo xứ Nội Hà thuộc địa bàn phường Thanh Bình, Quận Hải Châu, nội thành Đà Nẵng, giáo dân nằm rải rác ven đường Đinh Tiên Hoàng, đường Trần Cao Vân và một số khác cư ngụ trong địa bàn phường Tam Thuận, Quận Thanh Khê. Đa số giáo dân Nội Hà đến từ Giáo phận Vinh, trong cuộc di cư vĩ đại sau khi hiệp định Gieneve ký kết vào ngày 20/7/1954 phân hai đất nước tại vĩ tuyến 17.

1. Hình thành:
          Trước năm 1954, Thành phố Đà Nẵng đất rộng người thưa, ven biển là một dãi cát trắng dài với rừng dương liễu quanh năm vi vu trước sóng gió. Trong cuộc di cư xuôi Nam vào năm 1954, một số giáo dân thuộc xứ đạo Cồn Nâm, xã Nội Hà thuộc Giáo phận Vinh, dừng chân định cư tại đây. Trong số gần 400 hộ gia đình đầu tiên tại Giáo xứ Nội Hà, 15% là giáo dân gốc làng Báo Đáp, địa phận Bùi Chu, số còn lại thuộc Giáo phận Vinh từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Hướng Phương, Cầm Phong, Minh Cầm ... Cha Gioan Baotixita Trần Hữu Lễ,  nguyên là Chánh xứ Cồn Nâm, Hạt Hướng Phương, Địa phận Vinh, trở thành mục tử đàn chiên Nội Hà. Ngài còn là cái gạch nối giữa những người dân mới đến với chính quyền địa phương Đà Nẵng lúc bấy giờ.
          Từ một bãi cát hoang vu, Nội Hà bây giờ đã trở thành một khu dân cư đông vui nhộn nhịp. Các dãy nhà liên cư ngăn hộ nối tiếp nhau được dựng lên bằng vật liệu nhẹ, mái lợp tole, vách ngăn bằng phên tre, cọc cột gỗ, nền đất. Ngay trung tâm khu dân cư là một khoảnh đất rộng khoảng một hécta thuộc về Nhà Chung với ngôi Thánh đường nho nhỏ, nhà xứ và một căn phòng để làm nơi hội họp, vừa là phòng y tế, vừa được dùng làm lớp học cho trẻ con, với tấm bảng hiệu: TRẠI ĐỊNH CƯ NỘI HÀ. Đó chính là tiền thân của Giáo xứ Nội Hà, Giáo phận Đà Nẵng ngày nay.

2. Các thời kỳ:
Có công lớn trong việc quy tụ và xây dựng nên Giáo xứ Nội Hà, trước hết phải kể đến Linh mục Gioan Baotixita Trần Hữu Lễ, linh mục Giáo phận Vinh. Ngài nguyên là Chánh xứ Cồn Nâm, Hạt Hướng Phương, Địa phận Vinh. Ngài đã đưa đoàn chiên vào định cư tại vùng đất mới này.Năm 1956, Cha Gioan Baotixita Trần Hữu Lễ xin từ chức về nghỉ hưu tại Phan Thiết.
          Cha Phêrô Phạm Hữu Nghi được bổ nhiệm về thay thế Cha Lễ. Theo chương trình di dân lập ấp của Chính phủ lúc bấy giờ, Cha Nghi đưa một số lớn giáo dân Nội Hà di cư lên Cao nguyên, đến định cư tại Buôn Mê Thuột, đặc biệt là vùng Buôn Hồ, Đắc Lắc, làm nên Giáo xứ Hà Lan B ngày nay. Một số khác vào lập nghiệp ở vùng Tân Bình, Đồng Lác (Cam Ranh) cũng như ở Võ Đắc, Cẩm Đường ... Một số khác nữa tự tìm đường vào Hố Nai, Sài Gòn sinh sống.
Chúa quan phòng đã can thiệp, Nội Hà chỉ vắng bóng chủ chăn trong vòng 3 đến 4 tháng. Đầu tháng 7 năm 1957, Cha Phêrô Hoàng Ngọc Hồ cũng từ Vinh di cư vào, đến thăm con chiên bổn đạo cũ định cư tại Đà Nẵng. Nhìn thấy cơ cảnh này và với sự khích lệ của vị đồng hương là Cha Giuse Ngô Đình Phú đang trông coi xứ Chính Trạch gần đó,  Cha Hoàng Ngọc Hồ đã đồng ý qui tụ và chăm sóc những người còn ở lại. Chính quyết tâm của Ngài đã gìn giữ và phát triển xứ đạo non này. Giáo xứ Nội Hà dần dần được hồi sinh, ổn định và lớn mạnh không ngừng cho đến ngày nay..
          Song song với những công việc mục vụ Giáo xứ, Cha Hồ rất quan tâm đến việc văn hóa, nâng cao dân trí cho giáo dân. Ngài cho xây dựng hai dãy trường Tiểu học, đủ chỗ cho con em trong xứ theo học miễn phí, cũng như mời gọi các giáo viên tình nguyện giảng dạy. Ngày Chúa Nhật, các em qui tụ học giáo lý và sinh hoạt hội đoàn tại những dãy trường này. Đồng thời, Nhà thờ Giáo xứ cũng được sửa sang nâng cấp, rộng rãi khang trang hơn. Nhà xứ được xây dựng kiên cố, được xử dụng mãi cho đến những ngày gần đây.
          Từ năm 1961, Cha Phêrô Hoàng Ngọc Hồ kiêm nhiệmthêm Giáo xứ Tam Toà, để rồi đến năm 1964, ngài từ giả hẳn Nội Hà, để làm quản xứ Tam Toà.  Thay thế Ngài là Cha Bonaventura Nguyễn Văn An về làm quản xứ Nội Hà. Rời Nội Hà, Cha Hồ đã để lại cho Giáo xứ một sở nhà vườn, hiện nay Quý chị Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân - Huế đang sử dụng.
          Cha Bonaventura Nguyễn Văn An nguyên là Quản xứ Ái Nghĩa, đến Nội Hà trong hoàn cảnh Giáo xứ đã khá ổn định. Công việc đầu tiên là Ngài là sửa sang lại hai dãy trường Tiểu học, đồng thời kêu gọi giáo dân chung công góp sức để xây dựng thêm Trường Trung học. Đó là trường Thánh Mẫu Nội Hà, với ngôi nhà một tầng và 4 phòng. Giáo xứ còn làm một dãy nhà 3 gian phía mặt bên đường, trước cổng Nhà Thờ và trường học, để làm phòng đọc sách, giải trí cho học sinh. Ngoài ra, Giáo xứ cũng cho xây một căn hộ bên góc khu nhà xứ để làm nơi cư ngụ cho gia đình người bảo vệ  nhà thờ và trường học.
          Năm 1969, Cha Bonaventura Nguyễn Văn An bắt tay vào việc xây dựng mới lại Thánh  đường với sự hưởng ứng tích cực của giáo dân. Ngôi Thánh đường tuy không lớn hơn Nhà thờ cũ bao nhiêu, nhưng được xây dựng kiên cố và khang trang hơn nhiều. Ngôi Thánh đường còn tồn tại đến ngày hôm nay với một vài lần tu sửa lớn nhỏ.
Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Cha Bonaventura vì già yếu, nên xin phép Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi về nghỉ hưu tại quê nhà Bình Định.
          Cuối tháng 5 năm 1975, Cha Matthêô Chung (Matteo Tchong), một linh mục người Hoa Đài Loan, thuộc dòng Don Bosco, được Đức Giám mục thuyên chuyển từ Giáo xứ Phước Quang về Nội Hà. Cha Chung chỉ ở lại với Giáo xứ hơn 3 tháng, sau đó bị buộc phải rời Việt Nam theo chính sách của nhà nước lúc bấy giờ.  Ngài về nhà dòng tại Macao, và qua đời ít năm sau đó. Giáo dân Nội Hà lại thêm một lần tan tác. Gần một nửa số giáo dân của giáo xứ phải rời thành phố đổ về các vùng kinh tế mới tìm kế sinh nhai. Giáo xứ lại trở nên vắng vẻ u buồn.
Một lần nữa, Giáo xứ Nội Hà lại hoàn sinh. Cuối tháng 8 năm 1975, Cha Antôn Trần Văn Trường, phó xứ Chính Tòa được bổ nhiệm về làm Quản xứ Nội Hà trong hoàn cảnh đầy khó khăn. Là một Linh mục nhiệt tình, năng động, với tinh thần hoà nhập, cha Antôn đã nhanh chóng đem lại luồng sinh khí mới cho Giáo xứ Nội Hà đang băn khoăn xao xuyến.  Là một chuyên viên về giáo lý, đặc trách ban Giáo lý của Giáo phận, Ngài đã đem hết tài năng và tâm tình bồi đắp cho đàn chiên được giao phó cho Ngài trong tình hình mới này.
Để việc giáo dục được tiếp tục, từ ngày 18/9/1975, Giáo xứ đã để Nhà nước tạm xử dụng các cở sở giáo dục của mình nằm trong khuôn viên Nhà thờ, với toàn bộ các phòng học, bàn ghế và dụng cụ giáo dục… Hiện nay, 35 năm sau ngày thống nhất, thành phố đã phát triển và xây dựng nhiều ngôi trường mới khang trang đủ tiêu chuẩn giáo dục hiện đại, những gian phòng của Giáo xứ ngày xưa trở thành quá nhỏ bé, lại bất tiện vì nằm trong khuôn viên Nhà thờ, với số giáo dân mỗi ngày một tăng, nhu cầu sinh hoạt mỗi ngày một lớn. Giáo xứ hy vọng một ngày gần đây sẽ được xử dụng lại các căn phòng này, đồng thời có thể kiến tạo lại khuôn viên Nhà thờ cho ngăn nắp, cải tạo môi trường và tăng cường an ninh.
         Trong suốt 17 năm làm Quản xứ Nội Hà, Cha Antôn là Cha Sở Nội Hà thâm niên nhất từ trước đến nay. Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước và tôn giáo phải đương đầu với nhiều khó khăn kinh tế, chính trị, xã hội, Cha Antôn đã để lại cho giáo xứ và giáo dân những thành quả tinh thần thật đáng kể. Nhờ những lớp giáo lý trẻ em và người lớn kiên trì và liên tục, Cha đã hun đúc người giáo dân trưởng thành và vững vàng hơn trong cuộc sống đạo đời. Ngài cũng đã đào tạo cho Giáo xứ một đội ngũ giảng viên Giáo lý chuyên cần và nề nếp. Hội đồng Giáo xứ, các ban ngành, đoàn thể cũng được quan tâm cách đặc biệt, tạo cho giáo xứ luôn có những tông đồ giáo dân nhiệt thành, chung ta góp sức làm cho Giáo xứ luôn sinh động.
          Hiện diện trong Giáo xứ, có Cộng đoàn Chị em Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân - Huế. Các Chị đã thâm nhập vào hoạt động mục vụ truyền giáo của Giáo xứ rất tích cực.
Ngày 30 tháng 7 năm 1992 Cha Giuse Cao Văn Cườngtừ Xuân Thạnh về thay Cha Antôn Trần Văn Trường, đảm nhận Giáo xứ Nội Hà. Cha cựu quản xứ Antôn về Toà Giám mục để chuyên trách Giáo lý của Giáo phận, và 3 năm sau, Ngài được chọn làm Tổng Đại diện Giáo phận kiêm Quản xứ Giáo xứ Chính tòa.
          Cha Giuse Cao Văn Cường về nhận nhiệm sở mới với một tinh thần năng động, nhiệt thành và đạo đức. Ngài tiếp tục xây dựng và củng cố các đoàn thể. Nhu cầu đoàn thể và học giáo lý mỗi ngày một tăng, Giáo xứ phải xây dựng thêm các phòng hội họp và học giáo lý, với bàn ghế đầy đủ. Khuôn viên nhà thờ được che mát bằng hai dãy cây bàng thẳng tắp đến cổng ra vào, sân Nhà thờ được tráng bêtông sạch sẽ.
Ngày 15 tháng 6 năm 1997, Cha Giuse Cao Văn Cường đổi về Phú Thượng. Cha Vinh Sơn Hoàng Quang Hải về nhậm chức Quản xứ Nội Hà. Là Linh mục có tấm lòng đơn sơ, cần mẫn và chu đáo, Ngài chuyên chăm việc phụng tự cho Giáo xứ và cả Giáo phận, in ấn các sách giáo lý, sách hát, phụng vụ Thánh lễ, tu chỉnh các sổ hộ gia đình Công giáo, ghi chép từng chi tiết rõ ràng, cụ thể. Dưới thời Cha Vinh Sơn, Giáo xứ bắt đầu việc trùng tu Ngôi Thánh đường. Công việc hoàn thầnh tốt đẹp nhờ sự tham gia đóng góp công của giáo dân và  sự trợ giúp của quý ân nhân xa gần. Năm Thánh 2000, Ngôi Nhà thờ được mặc một lớp áo hoàn toàn mới, khang trang đẹp đẽ hơn. Cổng chính ra vào cũng được xây mới. Trong thời gian này, cơ sở của Cộng đoàn Con Đức Mẹ Vô Nhiễm cũng được nâng cấp và thêm nhà trẻ. Sau hơn 6 năm làm Quản xứ, ngày 21/8/2003, Cha Vinh Sơn được chuyển đến Giáo xứ Phước Tường.
            Dưới thời Cha Vinh Sơn, hội viên Legio Mariae phát triển mạnh. Ngài cũng cho thiết lập thêm Hội Bác Ái Vinh Sơn để chăm sóc giúp đỡ giúp đỡ người nghèo khó, neo đơn, già yếu trong địa bàn Giáo xứ không kể lương giáo.
          Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Cha Phêrô Nguyễn Hùng,phó xứ Tam Toà về nhận nhiệm sở Nội Hà thay Cha Vinh Sơn Hoàng Quang Hải, tiếp tục công việc của các thế hệ đàn anh. Trẻ tuổi, nhiệt thành, Ngài đã thổi vào Giáo xứ một luồng khí mới, giữa một không khí xã hội cũng đang dần đổi mới.
Việc trước nhất, Ngài đã xây dựng một núi đá Đức Mẹ như lòng mong ước của Giáo dân,  với tước hiệu: Đức Mẹ Thông ơn Thiên Chúa, được khánh thành và làm phép ngày 21 tháng 12 năm 2003, do Đức Giám Mục Giáo phận Phaolô Tịnh Nguyễn Bình Tĩnh, đồng thời, cũng để tạ ơn Đức Mẹ, sau 50 năm Giáo xứ được hình thành.
Cha Phêrô chú tâm củng cố giới Gia trưởng và giới Hiền mẫu. Các Thánh lễ ngày thường trong tuần, Ngài nhắm vào việc thánh hoá từng giới. Ngài cố gắng giúp gỡ rối cho nhiều gia đình, giáo dục Đức Tin cho thanh thiếu niên và truyền giáo trong khu vực theo lời mời gọi của Giáo Hội. Hội Trợ Táng được phát triển thêm và đổi tên thành Hội Bác ái trợ tang Tôbia
Tháng 12 năm 2008, do nhà xứ lâu năm xuống cấp, giáo xứ lại thiếu phòng ốc sinh hoạt, Cha Phêrô khởi xướng xây dựng lại ngôi nhà xứ 2 tầng. Tầng trên tạm dùng làm 4 phòng giáo lý, 01 phòng họp cho các ban ngành. Nhận được sự hỗ trợ của Tòa Giám mục cũng như các ân nhân xa gần và lòng nhiệt thành của giáo dân, công trình đã hoàn tất và đưa vào xử dụng vào tháng 6 năm 2009.
Vừa lo việc mục vụ Giáo xứ, vừa lo củng cố cơ sở, Cha Phêrô lại rất vất vả chiến đấu với việc chữa bệnh trường kỳ. Nhưng nhờ tinh thần lạc quan và phó thác, Ngài luôn chu toàn mọi công việc cách tốt nhất. Chúng ta đừng quên tiếp tục cầu nguyện cho Ngài.

3.  Hiện tình Giáo xứ:
Ngày nay, Giáo xứ Nội Hà qui tụ 1.450 giáo dân, gồm 400 gia đình, được chia ra làm 7 giáo khóm. Đa số sống bằng nghề lao động và buôn bán nhỏ lẻ trong thành phố.
Gắn kết với quá khứ và luôn hướng về tương lai, giáo dân Giáo xứ Nội Hà cùng Cha Quản xứ nhiệt thành, với các chị Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân - Huế hăng say phục vụ, với sức sống của mình, đang tiếp tục viết lên những trang sử tươi đẹp. Cơ sở vật chất đã ổn định, ngôi nhà tinh thần được vững mạnh, mục vụ truyền giáo là quan tâm hàng đầu của Giáo xứ hiện nay, bằng chính ý thức sống đời muối men của tất cả và từng người tín hữu.
Về Nhà thờ Chính Tòa hành hương theo tinh thần hiệp thông của Năm Thánh 2010 và theo lời kêu gọi của Đức Giám mục Giáo phận, Cộng đoàn Dân Chúa Giáo xứ Nội Hà xin được ngõ lời chào mừng mọi thành phần Dân Chúa Giáo phận đang hiện diện, cử hành Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa hôm nay. Xin cho hết chúng ta luôn vững tâm tin vào Lòng Thương Xót của Đức Kitô, Mục tử nhân lành, đã hiến mạng sống vì đàn chiên. Luôn bền tâm bước theo chân Người, dưới sự chăm sóc của Mẹ Hiền Giáo Hội, hôm nay và mãi mãi.
sưu tầm

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Nhà Thờ An Hoà- Đà nẳng


Vị Trí
Địa chỉ :   223/1 Trường Chinh, Q. Thanh Khê, TP Đà nẳng
Chánh xứ : Cha Giuse Nguyễn Kim Nhật
Tel

E-mail

Năm thành lập 1960

Bổn mạng

Số giáo dân  3000

Giờ lễ
Chúa nhật     : 7:00 & 18:00
Ngày thường : 18:00

Lịch sử 
LƯỢC SỬ GIÁO XỨ AN HÒA
Vào thập niên 60, khách bộ hành đi trên đoạn đường quốc lộ 1A về hướng Nam, cách ngã ba Huế chừng 1,5 km, không ai không thấy một ngôi trường đồ sộ mang tên: Trường Gioan XXIII. Đó là ngôi trường thuộc Giáo xứ An Hòa, một giáo xứ mới, do Cha Antôn Bùi Hữu Ngạn sáng lập. Hiện nay, ngôi trường đó chỉ là một khoảng đất trống, chúng ta chỉ thấy Thánh đường An Hòa xa xa với tháp chuông vươn cao.

1. Hình Thành:
Giáo dân Giáo xứ An Hòa đa số tập hợp từ hai Giáo phận Phát Diệm và Bùi Chu, di cư vào năm 1954 sau Hiệp định Genève. Ban đầu, nhóm giáo dân này tạm trú tại Hòa Mỹ gần đấy, dưới sự chăn dắt của Cha Dụ và Cha Bỉnh. Năm 1960, họ cùng khai hoang và định cư tại một vùng rừng thưa với những cây sim tím, thuộc ngoại ô thành phố Đà Nẵng, dọc theo quốc lộ 1A, giáp ranh với xã Hòa Phát, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, và hình thành Giáo xứ mới An Hoà. Nhà thờ được xây dựng trên một lô đất được mua lại từ công điền thuộc xã An Khê và Hòa Phát. Số giáo dân lúc này lên đến 3000 người.
Ban đầu, Nhà thờ được xây dựng bằng vật liệu nhẹ thô sơ, cùng với nhà xứ, nhà các soeurs và trường học… Năm 1960, nhà thờ được nâng cấp thành bán kiên cố, vì lúc đó cha Antôn chưa thỏa mãn với vị trí của ngôi Thánh đường, nên chờ thời gian qui hoạch tổng thể lại diện tích, để có thể xây dựng một Thánh đường khang trang hơn nhìn ra quốc lộ I A. Trong thời gian này, nhu cầu học vấn của người dân cần thiết và cấp bách hơn, nên trường học được quan tâm hàng đầu. Giáo xứ đã xây dựng một ngôi trường khang trang cho các học sinh trung học cơ sở và tiểu học. Đây chính là Trường Gioan XXIII, tên vị Giáo Hoàng đương nhiệm lúc bấy giờ, Người đã thiết lập Giáo phận Đà Nẵng vào ngày 18 tháng 01 năm 1963.
Để tạo công ăn việc làm cho khu dân sinh tân lập, năm 1965, Giáo xứ đã mở nhà in Thanh Công, trại chăn nuôi gà công nghiệp… Một phần không nhỏ người dân đi lính hoặc làm công ăn lương trong các trại quân đội Nam Việt Nam và đồng minh. Sau hiệp định Paris vào năm 1972, tình thế thay đổi, người dân thiếu việc làm. Một lần nữa, Cha Antôn Bùi Hữu Ngạn lại đích thân lên cao nguyên tìm đất canh tác, để có thể đưa dân chúng lên lập nghiệp. Thật rủi ro, Ngài đã tử nạn trong một chuyến đi, mang theo hoài bão ổn định chăm sóc cuộc sống cho dân nghèo vào năm 1973. Toàn Giáo phận tiếc thương cho một linh mục trẻ đầy nhiệt huyết, và cũng là bậc đàn anh đã gầy dựng phong trào Hùng Tâm Dũng Chí tại Giáo phận Đà Nẵng, và toàn cõi Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Tài xế chuyến xe định mệnh này lại chính là Thầy Dương Tấn Bằng (John Tabor), một binh sĩ ngành công binh Hoa Kỳ, sau khi mãn quân dịch tại Việt Nam, đã xin nhập tu tại Giáo phận Đà Nẵng. Với khả năng Việt ngữ rất sành sỏi, Thầy được gửi học thần học tại Sài Gòn từ năm 1969, và trở thành linh mục của Giáo phận vào năm 1974. 
Cha Antôn về với Chúa, nghĩa tử của Ngài là Cha Giuse Đinh Công Hạnh vừa mãn trường, được bổ nhiệm tiếp tục sự nghiệp tại Giáo xứ An Hoà, cán đán những khó khăn dang dở của Cha Cố để lại, cũng như lèo lái Giáo xứ An Hoà qua những ngày tháng khó khăn của Giáo xứ nói riêng và Giáo Hội nói chung, cùng với những đổi thay tận gốc rễ của đất nước.

2. Các thời kỳ:
Năm 1975, nước nhà thống nhất nhưng dân cư An Hoà lại tản mác phân tán. Khu vực Nhà thờ, nhà xứ phải thu hẹp lại cho thích hợp với tình thế mới. Trong thời gian khó khăn này, Cha Giuse nhìn đàn chiên từ   con số 3000, giờ chỉ còn vỏn vẹn khoảng 150 người. Phần đông dân chúng đi lập nghiệp phương xa hoặc lên khu kinh tế mới Hoà Trung. Cha Giuse đã tận tình lên xuống với họ, giúp họ cả tinh thần lẫn vật chất, và hình thành Giáo họ Hoà Trung ngày nay, thuộc Giáo xứ Hoà Ninh. Mọi công việc tại Giáo xứ dường như ngưng đọng lại, Ban Đại diện Giáo dân cũng không thể hoạt động. Trường học, nhà in Thanh Công, trại gà… đều đóng cửa hoặc để Nhà Nước trưng dụng. Các hội đoàn trong giáo xứ chỉ hoạt động cầm chừng trong âm thầm. Cha Giuse vẫn tiếp tục đồng hành với Giáo xứ trong âm thầm cho đến năm 1990.
Đầu thập niên 90, tình hình đất nước sáng sủa hơn với những đổi mới lần hồi. Năm 1990, Cha Giuse được cử đến nhiệm sở mới Sơn Trà, và thay thế Ngài coi sóc An Hoà là Cha Luis Huỳnh Nhẫn. Số giáo dân lúc này đã khá hơn do dân nhập cư từ nơi khác dồn về, một số giáo dân từ khu kinh tế mới Hoà Trung trở lại, tổng số giáo dân lên khoảng 500 người. Một năm sau khi về nhậm xứ, Cha Luis đã chính thức bầu lại Ban Đại diện Giáo xứ, và hoạt động xứ đạo bắt đầu lại rộn ràng lên.
Năm 1999, Cha sở cùng bà con giáo dân đã huy động toàn tực để xây dựng một ngôi Nhà thờ mới cho Giáo xứ. Sau gần một năm thi công, một thánh đường khang trang đẹp đẽ đã hoàn thành, và được Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách thánh hiến trong niềm vui khôn tả của giáo dân An Hoà và của toàn Giáo phận.
Công trình vật chất của Giáo xứ không dừng lại ở đó, năm 2002, lại tiếp tục xây dựng nhà xứ hai tầng, dựng các đài Đức Mẹ và Thánh Giuse, tạo cảnh quan chung quanh nhà thờ. Năm 2003, như hoàn thành sứ mạng Chúa trao, Cha Luis lưu luyến chia tay với đoàn con An Hòa để chính thức về nghỉ hưu tại Tòa Giám mục và qua đời chỉ vài năm sau đó. Giáo dân An Hoà không sao quên được hình ảnh thân thương của Ngài.
Từ năm 2003 đến 2007, Cha Emmanuel Nguyễn Tấn Lục làm quản xứ với số giáo dân tăng lên khoảng 600 người. Giáo xứ đã ổn định về cơ sở vật chất, Cha Emmanuel giờ đây lại đầy mạnh việc xây dựng con người. Bầu ban đại diện khi hết nhiệm kỳ, tổ chức các sinh hoạt mục vụ, đưa giáo xứ đi vào nề nếp với những nghi lễ phụng vụ kỹ lưỡng trang trọng hơn. Tổ chức các lớp giáo lý căn bản cho thiếu nhi và giới trẻ, chia Giáo xứ thành 8 giáo khóm, lập nhóm chia sẻ Lời Chúa….
Ngày 1 tháng 10 năm  2006, cơn bão Xangsane đổ bộ vào thành Phố Đà Nẵng đã làm thiệt hại nhiều nhà cửa và công trình. Nhà thờ An Hòa chịu chung số phận. Mái Nhà thờ bị tốc toàn bộ, gây hư hại đáng kể. Cha sở và Giáo xứ đã lập tức bắt tay vào việc tu sửa và đồng thời nâng cấp Thánh đường, nhờ đó, ngôi nhà thờ trở nên khang trang và càng mới mẽ hơn trước.

3. Hiện tình Giáo xứ:
Năm 2007, Cha Giuse Nguyễn Kim Nhật rời nhiệm sở An Hải để về quản xứ An Hòa thay Cha Emmanuel Nguyễn Tấn Lục. Số giáo dân lúc này đã lên đến 800 người, bởi thành phố phát triển mạnh, nhiều người từ các nơi đến đây để định cư làm ăn. Cha Giuse ưu tiên đào tạo nhân sự cho Giáo xứ, nhất là đội ngũ giảng viên giáo lý, củng cố giới trẻ.
Ngoài công việc mục vụ rất mực chu đáo và gần gũi với giáo dân, Cha Giuse cũng yêu thích thiên nhiên, Ngài dành thời giờ để tạo cảnh quan vườn – đài thoáng mát, cây cảnh phong phú hơn, dựng thêm tượng đài Á thánh Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi của Giáo hội Việt Nam.
Giáo xứ cũng vừa chỉnh trang lại gian cung thánh thoáng rộng hơn. Nhà xứ thêm tiện nghi sinh hoạt, nhất là qui hoạch lại phòng ốc cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu học giáo lý của các em ngày một đông. Giáo xứ thường xuyên mở các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân, nhằm giúp cho các đôi bạn biết Chúa và hiểu về hôn nhân Kitô Giáo. Giới trẻ An Hoà trở nên sôi nổi chung quanh Cha Giuse, xây dựng nhiều phong trào, canh tân nếp sống mới, làm cho bầu khí xứ đạo mỗi ngày thêm tươi trẻ.
Cha Giuse không những ổn định sinh hoạt của các hội đoàn đã có, Ngài còn tiếp tục lập thêm giới người cao tuổi, nhóm Têrêsa Calcuta để làm việc từ thiện, Hội đoàn Legio, nhóm Lòng Chúa Thương Xót… Lập thêm ca đoàn hiền mẫu, ca đoàn hiền phụ… Ngài quyết tâm không để ai đứng nhìn người khác sinh hoạt.
Giáo xứ cũng được sự đồng hành của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô từ những tháng ngày mới thành lập. Các Chị trợ giúp Giáo xứ trong nhiều lãnh vực hoạt động, đặc biệt là các lớp giáo lý, các khoá xưng tội rước lễ lần đầu và thêm sức. Giáo xứ không quên ơn các Chị.

 4. Lời kết:
 Nhìn lại chặng đường 50 năm qua từ khi lập xứ, Giáo xứ An Hòa đã trải qua những bước thăng trầm trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Hội ngộ rồi biệt ly, nhất là những ngày sau chiến tranh, tưởng chừng đàn chiên tan tác,  giáo xứ bị xoá sổ… Nhưng rồi, An Hoà lại hồi sinh cách mạnh mẽ để trở thành một Giáo xứ nề nếp gọn gàng, giáo dân mỗi ngày một tăng, lòng đạo mỗi ngày thêm khởi sắc.
Tất cả là hồng ân của Chúa! Xin dâng lời tạ ơn Ngài, cũng như các mục tử Ngài đã đưa tới chăm sóc đàn chiên Giáo xứ cho đến hôm nay. Cầu chúc Giáo xứ An Hòa luôn an bình hoà thuận, trong hiệp nhất yêu thương, để thăng tiến bản thân gia đình, phát triển Giáo xứ, sống chứng nhân và loan báo Tin Mừng của Chúa cho đồng bào, đang cùng chia sẻ cuộc sống quanh mình.
Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri, Giám mục Giáo phận, đã công khai bày tỏ ước mong một ngôi trường tư thục Công giáo chóng được xây dựng lại trên nền trường Gioan XXIII còn đang để trống, như sự góp phần của Giáo Hội trong sự nghiệp chung của Đất Nước, cách riêng của Thành phố Đà Nẵng. Chính tại nơi đây, sự nghiệp giáo dục đã bắt đầu khi đất nước phân ly; thì ngày nay, Bắc Nam đã sum họp một nhà, một ngôi trường được tái lập nơi đây sẽ là hình ảnh và động lực gọi mời mọi người cùng đồng lòng xây dựng lại quê hương, bắt tay phát triển đất nước. Tất cả bắt đầu bằng sự nghiệp giáo dục, như quan tâm đúng đắn của các bậc tiền bối của Giáo xứ An Hoà.

Nhà Thờ Phước Tường- Đà nẳng


Vị trí
Địa chỉ :   311, Trường Chinh, Quận Thanh Khê, Thanh Khê, Đà Nẵng  
Chánh xứ : Linh Mục Phêrô Nguyễn Ngọc Phi
                  Đt: 0905 102547 Email: ngocphilm@yahoo.com
Tel

E-mail

Năm thành lập

Bổn mạng

Số giáo dân

Giờ lễ
Chúa nhật     :
Ngày thường :
Lịch sử
Lược sử Giáo xứ
< đang cập nhật>

Nhà Thờ Chánh Trạch- Đà nẳng


Vị Trí:
Địa chỉ : 68 Hoàng Hoa Thám , Q. Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng
Chánh xứ : Linh Mục Đaminh Đặng Bá Linh
Tel
0511 3827 838

E-mail


Năm thành lập
 1954

Số giáo dân
 1500

Giờ lễ
Chúa nhật     : 5:00  &  17:00
Ngày thường : 4:45

Lịch sử
Lược sử Giáo xứ Chính Trạch 
I. Hình thành Giáo xứ.
1. Hoàn cảnh ra đời:
Sau hiệp định Genève có khoảng chừng một triệu người miền bắc Việt Nam,bên kia vĩ tuyến 17 di cư vào phía Nam. Đa số là người Công giáo thuộc các giáo phận miền bắc Việt Nam,trong số đó cũng có một số dân vùng cận duyên huyện Quảng Trạch,tỉnh Quảng Bình vào Đà nẵng.Một số định cư trên mảnh đất nay gọi là Chính Trạch.
2. Danh xưng:
Cha Giuse Ngô Đình Phú là người sáng lập Giáo xứ.Theo Ngài,địa danh Chính Trạch là sự kết hợp của hai địa danh gốc Đạo và Đời.
-Đạo:Phát xuất bởi hạt Bình Chính cũng gọi là Hướng Phương.
-Đời:Phát xuất bởi huyện Quảng Trạch,Quảng Bình.
Cha Phú ghép hai chữ Chính và Trạch của Bình Chính và Quảng Trạch mà đặt cho địa danh mới là Chính Trạch ngày nay.
3. Quá trình thành lập:
Khu đất thuộc Giáo xứ Chính Trạch đang sinh sống hiện nay là do Cha Jeanningros (Cố Vị) mua của thị xã Đà Nẵng vào ngày 15 tháng 01 năm 1954 gồm 3 lô đất ghi số 535,538 và 540(trong bản phân lô của Thị xã Đà nẵng) tổng diện tích 6705 m2. Việc mua đất đã thực hiện trước khi có phong trào di cư.Khu đất này giới hạn bởi đường Hoàng Hoa Thám;đường Lê Duẩn và khe thoát nước như là cạnh đáy của hình Tam giác.
Địa điểm toa lạc của Giáo xứ Chính Trạch hiện nay,vào năm 1954 là một khu đất cát hoang vu.Để dân di cư có chổ tạm trú,người ta đã thiết lập lán trại bằng những dãy nhà gỗ lợp tôn liên kết với nhau.Những người di cư,ai có gia đình từ 4 người trở lên thì nhận được một căn,còn ít thì 2 gia đình nhận một căn.
Người công giáo được sự hướng dẫn của các linh mục nên được sống chung theo từng cụm gia đình.Tại Chính Trạch đa phần thuộc gốc Quảng Bình.Ban đầu nơi đây chỉ có tính cách tạm cư chứ không tính đến định cư.Nhưng sau đã trở thành định cư với những tranh chấp cả chính quyền lẫn giáo quyền.Mãi đến năm 1958 giáo quyền mới chính thức nhìn nhận là giáo xứ.Với tước hiệu Nữ Vương Hoàn Vũ .
II. Các Linh Mục được giao phó coi sóc giáo xứ.
A* Linh Mục Giuse Ngô Đình Phú
Ngài là người sáng lập giáo xứ.
Nguyên quán ở Sông Ngọc,Nghệ An thuộc Giáo phận Vinh. Ngài sinh năm 1906,thụ phong linh mục năm 1937.Ngài Lãnh đạo giáo xứ Chính Trạch từ năm 1954 đến ngày 23 tháng 5 năm 1973.Sau 36 năm tận tụy trong chức vụ chủ chăn coi sóc giáo xứ,vì tuổi cao sức yếu,ngài đã đựơc bề trên giáo phận thuận cho ngài được nghỉ hưu tại nhà riêng ở Thanh Đức.
Ngài được Chúa gọi về vào ngày 22 tháng 7 năm 1984.Ngày 20 tháng 6 năm 1992 hài cốt ngài được di về quê hương Sông Ngọc,đợi ngày Thiên Chúa ban thưởng.
Thời Cha Giuse gồm có:
Ông Nguyễn Khiêm là trưởng ban hành giáo.Khi Ông Nguyễn Khiêm qua đời,Ông Nguyễn Quang được chọn làm trưởng ban,kiêm cả đạo lẫn đời.Chính Trạch trở nên một khối phố,do Ông Nguyễn Quang làm khối trưởng.
B* Linh Mục Gioanbaotixita Nguyễn Duy Lượng.
Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1937;thụ phong linh mục ngày 31 tháng 5 năm 1966.Ngài lãnh đạo giáo xứ Chính Trạch từ ngày 23 tháng 5 năm 1973 đến ngày 10 tháng 6 năm 1998.
Ngay khi ngài về lãnh đạo giáo xứ,ngài đã tổ chức bầu hội đồng Giáo xứ theo qui chế của Giáo phận.Cộng tác với Ngài trong thời gian đó đến năm 1974 gồm có các Ông:
1- Nguyễn Kim Khánh.
2- Nguyễn Văn Trí.
3- Vương Công
4- Phạm Đạo
5- Nguyễn Hoạ
6- Nguyễn Bá Thích.
7- Nguyễn Đê.
8- Nguyễn Xuân Cảnh.
9- Phạm Điện.
10-Nguyễn Văn Bá.
11-Nguyễn Hỷ.
12-Hồ Ngọc Dĩ.
13-Trương Văn Minh.
14-Nguyễn Chí Thành.
15-Đoàn Chí Thiệp.
Từ năm 1976 đến 1987 gồm có các Ông:
1- Nguyễn Chí Thành .
2-Nguyễn Văn Đoan.
Từ năm 1988 đến 1991 gồm có các Ông:
1- Trương Văn Minh.
2- Nguyễn Văn Đoan.
Từ tháng 01 năm 1991 đến tháng 7 năm 1991 gồm có các Ông:
1- Lê Ngãi.
2- Đỗ Văn Phúc.
3- Nguyễn Chí Tự.
4- Đinh Ngọc Trân
5- Đặng Văn Xuân.
Từ tháng 8 năm 1991 đến tháng 4 năm 1994 gồm có các Ông:
1- Hoàng Đào.
2- Nguyễn Văn Đoan.
3- Lương Ngọc Khanh.
4- Cao Châu.
Từ tháng 4 năm 1994 đến năm 1998 gồm có các Ông:
1- Hoàng Đào.
2- Nguyễn Văn Đoan.
3- Lương Ngọc Khanh.
4- Cao Châu.
5- Địch Viết Vinh.
6- Nguyễn Ngọc Hường.
7- Tống Viết Báu.
Trong thời gian này,sinh hoạt giáo xứ được chia thành 7 nhóm. Trong mỗi nhóm cũng có ban điều hành nhóm .
C* Linh mục Emmanuel Nguyễn Tấn Lục.
Ngài Sinh năm 1953; chịu chức linh mục ngày 22 tháng 7 năm 1997.Ngài lãnh đạo giáo xứ từ ngày 10 tháng 6 năm 1998 đến ngày 21 tháng 8 năm 2003
Cộng tác với Ngài có các Ông:
1- Nguyễn Chí Cường.
2- Lê Ngọc Thạch.
3- Địch Viết Vinh.
4- Lê Ngọc Lộc.
5- Nguyễn Ngọc Hường.
6- Hoàng Thành.
7- Hoàng Đức.
D* Linh mục Đôminicô Trần Công Danh.
Sinh năm 1966.Tại Tam Toà,Đà Nẵng.
Thụ phong Linh mục ngày 22 tháng 6 năm 2001.
Lãnh đạo giáo xứ từ ngày 21 tháng 8 năm 2003 đến 2010
Do tình hình sức khoẻ nhiều vị cộng tác trong thời cha Emmanuel đã nghỉ. Khi Cha Đôminicô về nhận xứ chỉ còn lại Ông Nguyễn Chí Cường điều hành giáo xứ và một số người đựơc ông Cường mời. Đến ngày 08 tháng 5 năm 2004 Ông Cường xin từ nhiệm. Hiện nay cộng tác với ngài có ban xử lý thường vụ gồm các Ông:
1- Hoàng Đào. 2- Lê Ngãi.
3- Nguyễn Văn Đoan. 4- Cao Châu.
5- Địch Viết Vinh. 6- Nguyễn Chí Tự.
7- Nguyễn Ngọc Hường. 8- Hoàng Đức.
9- Nguyễn Hoạ. 10-Hồ Ngọc Dĩ.
Đến nhiệm kỳ 2004 - 2009 Ban Đại diện giáo dân được bầu lại cho một nhiệm kỳ mới gồm những ông :
Trưởng ban : Dom Nguyễn Ngọc Hường
Phó Nội vụ : Phêrô Nguyễn Thái (nghỉ 4/2009)
Phó Ngoại vụ : Phêrô Hoàng Đình Đại
Thư ký : Phêrô Hoàng Thành
Thủ quỷ : Anê Đinh Thị Thành
Ban ngành các giới :Giuse Dương Sung
Và ban điều hành các nhóm được nhập còn 5 nhóm
III.Các công trình xây dựng và các sinh hoạt giáo xứ.
A.Các công trình xây dựng.
1- Là người sáng lập giáo xứ cha Giuse Ngô Đình Phú,đã xây dựng một ngôi nhà thờ,tường xây.Chiều dài 27m,chiều rộng 8m,cao chừng 4m.khung nhà bằng sắt;Ngài cũng xây một ngôi nhà xứ lợp ngói vào năm 1959 diẹân tích (12m x 7m) là nhà của cha xứ ở và sinh hoạt,Ngài cũng xây một dãy nhà ngăn làm 3 phòng.Ngài cũng xây một trường học dài,có 6 phòng học kể cả văn phòng cho các lớp tiểu học.Ngôi trường này sau năm 1975,nhà nước hiện thời quản lý để làm cơ sở giáo dục.Ngoài ra Cha Giuse còn xây một ngôi nhà lầu nhỏ,dự tính mời các nữ tu về giúp giáo xứ,nhưng không thành.Hiện ngôi nhà này do 2 gia đình giáo dân sử dụng.
Phía sau nhà thờ,có mấy căn nhà Cha Giuse dành cho một số gia đình ở tạm,với ý định khi nào có cơ hội sẽ cơ nới nhà thờ và khi đó sẽ thu hồi để nhà thờ được kéo dài về phía sau,nhưng không thành.Với thời gian,những căn nhà này xuống cấp,nên các gia đình đang sử dụng yêu cầu sửa lại như hiện trạng.
2-Khi Cha Gioan Baotixita Nguyễn Duy Lượng được bổ nhiệm về coi xứ.Ngài vẫn duy trì các sinh hoạt mà Cha Giuse đã khởi sự.
Năm 1981 để có chỗ cho các em học Giáo lý,ngài đã xây dựng một căn nhà lợp tôn sát đường Hoàng Hoa Thám có diện tích 42m2 .
Từ cuối năm 1989,Ngài cùng cộng đoàn Giáo xứ tái thiết nhà thờ và khánh thành với Thánh lễ Cung hiến do Đức Giám mục Giáo phận Phanxicôxavie Nguyễn Quang Sách chủ tế,vào ngày 30 tháng 5 năm 1991.
3-Cha Emmanual Nguyễn Tấn Lục về nhận xứ vào năm đại thánh 2000,ngài đã chỉnh trang lại nhà thờ,sơn lại màu trần,thay toàn bộ kính màu các cửa vì trước đây được che kín bằng những tấm tôn nhựa.Sửa và nâng cấp cung thánh, bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ Thánh Giuse.
4-Đến thời điểm Giáo xứ chuẩn bị mừng 50 năm thành lập.Đức Giám mục Giáo phận bổ nhiệm Cha Đôminicô Trần Công Danh về coi sóc giáo xứ từ ngày 21 tháng 8 năm 2003. Trong tinh thần chuẩn bị mừng 50 năm hình thành giáo xứ,ngài đã chỉnh trang lại gian Cung thánh và thay đổi toàn bộ bàn ghế để nhà thờ thêm vẻ khang trang xứng nơi đền thờ cung hiến như hiện nay và hoàn chỉnh phòng truyền thống.
Trong quá trình phucï vụ giáo xứ Cha Đôminicô đã cho tái xây dựng lại các phòng học giáo lý và nhà xứ như hiện nay.Hơn thế nữa,vì nhà thờ là nơi thánh và đã cung hiến nên Ngài cũng không ngớt lo toan,mãi đến năm 2007 có điều kiện ngài cho thay toàn bộ plafond nhà thờ bằng công nghệ tân tiến,lót gạch nền,ốp trụ bằng Alu công nghệ mới,đồng thời chỉnh trang toàn bộ bên trong nhà thờ như hiện nay.Cĩ thể nĩi là xứng với nơi được cung hiến để thờ phượng Chúa .
B.Các sinh hoạt trong giáo xứ:
1-Dân số và kinh tế.
Giáo xứ Chính Trạch hiện nay có hơn 350 gia đình,với tổng số khoảng trên dưới 1500 giáo dân,đa số sống trong địa bàn phường Tân Chính,một số sống rãi rác ở các phường lân cận.Phần lớn giáo dân sống bằng nghề lao động phổ thông và buôn bán nhỏ,nên đời sống kinh tế nói chung chỉ ở mức trung bình.
2-Về mặt văn hoá.
Do đời sống kinh tế trong những năm gần đây,có phần tương đối đi lên và ổn định,nên việc học hành của con em trong giáo xứ cũng có phần khả quan.Đa số đều được học văn hoá ở các trường trong thành phố theo đúng độ tuổi.
Có một số em đang theo học tại các trường Đại học trên toàn quốc,cũng có em Cao học,Thạc sĩ và cũng có một số anh chị đang làm công tác giảng dạy tại các trường công lập cũng như các lớp bổ túc.
Trong thời gian Cha GioanBaotixita coi sóc giáo xứ.Ngài cũng xin được một số học bổng để hổ trợ cho các em nghèo lương cũng như giáo.Ngài khuyến khích giới trẻ nâng cao trình độ văn hoá.
Trong thời kỳ Cha Emmanuel lãnh đạo giáo xứ để động viên khuyến khích các em có thành tích học tập xuất sắc,hạnh kiểm tốt,hằng năm vào dịp bế giảng,Cha quản xứ,ban đại diện và một số vị ân nhân đã có những phần thưởng trao tặng cho các em.Ngoài ra vào dịp khai giảng năm học và hàng tháng, Cha đã trợ giúp cho một số em có hoàn cảnh khó khăn để các em có điều kiện đến trường.
3- Vườn hoa Ơn gọi.
Trong suốt hơn 50 năm qua,giáo xứ có rất nhiều thành quả trong vườn hoa ơn gọi như Cha Phêrô Nguyễn Hùng quản xứ Nội Hà ; các Tu sĩ Camillo Nguyễn Quang Thành dòng Xi tô; Tu sĩ Phêrô Hoàng Xuân Lộc ,dòng Phanxicô và các Chị Nữ tu như chị Nguyễn Thị Lành dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm(Sài gòn) ; chị Nguyễn Thị Kim Phượng dòng St Phaolô và chị Anna Địch Dương Thu Thảo dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm là những người con Ưu tú của giáo xứ hiện gia đình đang còn sinh sống ở mãnh đất Chính Trạch.Còn biết bao nhiêu Vị đã sinh trưởng trên mãnh đất này nhưng vì hoàn cảnh sinh sống,phải rời khỏi giáo xứ như:Linh mục Phêrô Hoàng Gia Thành chánh văn phòng Toá Giám Mục Giáo phận Đà nẵng; Linh mục GioanBaotixita Nguyễn Thanh Bích ,CSsR;Linh mục Hồ Viết Xuân và Linh mục Matthêu Nguyễn Khắc Hy (Hoa Kỳ);Linh mục Gabriel Nguyễn Ngọc Tuấn Cha sở Tiên phước .
4- Các hoạt động Tông đồ giáo dân.
Hiện tại giáo xứ có khoảng trên dưới 40 anh chị em đang tham gia hoạt động phong trào tông đồ;LegioMariae,gồm có 4 Praesidia
Hiện nay giáo xứ đã hình thành được giới Gia trưởng và giới Hiền mẫu có ban điều hành cụ thể.Ban Điều hành mỗi giới có 15 thành viên,trong đó có một trưởng và hai phó ban.Mãi đến mùa hè 2006 ban điều hành giới Trẻ mới ra đời,với công tác giúp người nghèo bằng việc thu gom gạo tình thương để hổ trợ cho người nghèo trong địa bàn giáo xư hàng tháng không kể lương giáo.
Cũng vậy,Ban điều hành Bác ái Trợ tang đã được hình thành từ thời Cha GioanBaotixita,nhưng chỉ có một số ít tham gia.Đến thời Cha Đôminicô kêu gọi giáo dân trong tinh thần đoàn kết tương thân tương ái,mọi người cùng tham gia thì hầu hết các gia đình hưởng ứng tham gia.
Còn về mặt phát triển đức tin và nhân bản,thì giáo xứ có 8 lớp giáo lý hơn 20 anh chị em giảng viên đựơc chia đều các lớp.Đến đầu năm 2009 các em thiếu nhi được Cha Đôminicô và các anh chị giảng viên hướng dẫn Thành lập đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể với xứ Đoàn Kitô Vua được các em hồ hởi tham gia
Linh mục Quản xứ trao cờ Đoàn cho anh Trưởng
Chào cờ lần đầu tiên khi thành lập Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể
5- Phát triển về mặt Xã hội và Bác ái.
Nhìn chung,các mối quan hệ giữa các vị chủ chăn với các vị lãnh đạo trong chính quyền địa phương rất tốt đẹp.Về phía giáo dân cũng tích cực tham gia vào các sinh hoạt địa phương theo phương châm,thư chung 1980.
Hằng năm vào các dịp Đại lễ như Giáng Sinh;Phục Sinh và Tết Nguyên đán,cộng đoàn giáo xứ cùng nhau chia sẻ một ít phần vật chất giúp đỡ các gia đình nghèo trong khu vực địa phương gần giáo xứ,không phân biệt lương giáo.Đặc biệt Cha Emmanuel cũng đã giúp 5 gia đình một số vật liệu để tu chỉnh nhà ở theo tinh thần xoá nhà tạm và chỉnh đốn công trình phụ.
Sưu tầm