Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế- Khu Du Lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huế- Khu Du Lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Làng Dương Nỗ- Huế


Vị trí
Làng Dương Nỗ thuộc xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế khoảng 8km.
Đặc điểm
Dương Nỗ là một làng người Việt khai phá xây dựng từ khá sớm. Thuở nhỏ, Hồ Chí Minh đã sống cùng cụ thân sinh khi còn dạy học ở đây.
Tại đây hiện còn lưu giữ ngôi nhà kỷ niệm, cùng những kỷ vật gắn bó với tuổi thơ của Người.
Cách đây vài thế kỷ, Dương Nỗ là làng quê sầm uất, giàu có và là mảnh đất có truyền thống văn võ. Ngôi đình làng được xây cất từ lâu đời. Ðình Dương Nỗ khá nổi tiếng bởi kiến trúc quy mô đẹp và thâm nghiêm, một di tích tiêu biểu cho mô hình làng cổ Việt Nam.
Năm 1898, cụ Nguyễn Sinh Huy (thân sinh của Bác Hồ) được ông Nguyễn Viết Tuyên, nhân viên Bộ hình, người làng Dương Nỗ mời về dạy cho các con mình đang chuẩn bị kỳ thi Hương. Thời gian ấy, cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên gọi của Bác khi đó) được theo cha về làng Dương Nỗ. Tại đây, cậu bắt đầu học chữ Hán cùng với những học sinh nhỏ của cha. Cha con cụ Huy đã được gia đình ông Nguyễn Văn Ðộ giao cho sử dụng một ngôi nhà năm gian (ba gian hai chái) để làm nơi ở và dạy học trò. Cậu Cung đã ở với cha tại Dương Nỗ cho đến năm 1900 khi cụ Huy phải đi nhận chức giám thị tại kỳ thi Hương ở Thanh Hoá, cậu trở lại thành nội sống với mẹ là bà Hoàng Thị Loan tại ngôi nhà 112 đường Mai Thúc Loan, Huế...
Ngôi nhà ở Dương Nỗ dựng theo hướng đông nam, cách bờ sông Phổ Lợi chừng 30m. Ngôi nhà này sau bị hoả hoạn, ông Ðộ cho dựng lại một gian hai chái... Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, nhân dân địa phương đã bảo trì và phục chế lại theo kiến trúc như xưa để làm khu lưu niệm thể hiện tấm lòng kính yêu và ngưỡng mộ của dân tộc đối với Bác Hồ.
Ngày nay, du khách đến Dương Nỗ, được xem lại ngôi nhà giữ nhiều kỷ niệm tuổi ấu thơ của Bác trong những năm sống ở đây, thăm lại ngôi đình cổ kính, đồ sộ, dòng sông, bến nước, miếu Am Bà, nhà thờ Bảy họ khai canh của làng... là những nơi thuở ấy Người thường lui tới, vui chơi với bạn bè.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Phân viện Bảo tàng Hồ Chí Minh- Huế



Vị Trí
Số 6 đường Lê Lợi, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ðiện thoại: (054) 3822 152 /3820 445.
Đặc điểm
Phân viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Huế là nơi trưng bày nhiều hiện vật, tranh ảnh nói về sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt giới thiệu về 10 năm Người ở Huế.
Giờ mở cửa: 7:30 - 16:30 vào các ngày trong tuần; trừ chủ nhật.
Bên trong Phân viện Bảo tàng Hồ Chí Minh có 4 di tích được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá, từng bước được đầu tư, bảo tồn và tôn tạo để phục vụ khách trong nước và quốc tế. Ðó là:
- Nhà ông Nguyễn Sỹ Ðộ, thôn Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và học tập trong những năm 1898 - 1900.
- Quyết định công nhận số 298 QÐ/BT, ngày 26/3/1990, Nhà số 112, đường Mai Thúc Loan, phường Thuận Lộc, Tp. Huế nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và học tập trong những năm 1906 - 1908.
- Quyết định công nhận số 298 QÐ/BT, ngày 26/3/1990, Trường Quốc Học, phường Vĩnh Ninh, Tp. Huế, đình làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang.
Sau 2 năm xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh Thừa Thiên Huế đã chính thức khánh thành, mở cửa trưng bày, đón khách tham quan đúng vào ngày 19/5/2000.
Tới đây, du khách có dịp hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, hiểu thêm về tình cảm kính trọng vô bờ bến của nhân dân Thừa Thiên Huế đối với Người.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Chùa Thiên Mụ- Huế


Vị trí
Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm
Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế.
Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng, từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa tọa lạc ngày nay và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Khi nói xong, bà biến mất. Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự.
Năm 1601, chùa được xây dựng. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3.285kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa.
Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m).
Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.
Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.
Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Chùa Diệu Đế- Huế


Vị trí
Chùa Diệu Đế thuộc địa phận phường Phú Cát, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm
Diệu Ðế là ngôi quốc tự thứ ba, được vua Thiệu Trị coi là một trong hai mươi thắng cảnh của đất kinh đô Huế.
Chùa được vua Thiệu Trị truyền lệnh xây dựng với qui mô lớn vào các năm 1842, 1844 khi mới lên ngôi vài năm, trên vùng đất nhà vua đã ra đời.
Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu Đế và bên phải là đường chùa Ông. Kiến trúc ban đầu của chùa rất qui mô. Tuy không đẹp bằng chùa Thiên Mụ, nhưng chùa Diệu Ðế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia).
Chính điện là đại giác, tả hữu chính điện là Thiền Đường, phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng ba gian, sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp, sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn. Hệ thống La Thành ngoài chùa Diệu Ðế xây dựng kiên cố, bề thế, trước có Phượng Môn ba cửa, hai bên có cổng nhỏ, ngoài bờ sông có xây bến thuyền khoảng mười bậc lên xuống.
Trước đây, chùa Diệu Ðế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885). Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ...về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.
Hiện nay, chùa chỉ còn chính điện, hai bên chính điện đặt Bát Bộ Kim Cang, phía sau có một nhà khách, một bếp. Sân ngoài có nhà bia, nhà chuông, ngoài cùng là cổng Tam Quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam


Chùa Từ Ðàm- Huế


Vị trí
Chùa tọa lạc ở phường Trường An, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm
Từ Đàm là một trong những ngôi chùa lớn ở Huế, được xây theo kiểu cấu trúc "chùa hội".
Chùa do Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung sáng lập vào cuối thế kỷ 17, đời Lê Hy Tông. Ðến năm Thiệu Trị Nguyên Niên (1841) chùa đổi tên là Từ Ðàm. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.
Kiến trúc của chùa theo kiểu “chùa Hội”. Ở sân chùa có cây bồ đề được chiết cành từ cây bồ đề nơi đức phật đắc đạo được mang từ Ấn Ðộ sang trồng vào năm 1936.
Năm 1951 chùa là nơi họp Ðại hội Phật giáo thống nhất toàn quốc. Chùa hiện đặt văn phòng Ban trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Chùa Từ Hiếu- Huế




Vị trí
Chùa tọa lạc tại núi Dương Xuân, xã Thủy Xuân, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm
Chùa được xây theo kiểu chữ “khẩu”, chùa chính ba căn, hai chái. Chính điện phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ.
Năm 1843, hoà thượng Nhất Ðịnh nguyên tăng cang chùa Giác Hoàng đã đến đây khai sơn thảo am nhỏ để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ.
Năm 1848, hòa thượng Cương Kỷ bắt đầu xây dựng qui mô bởi sự hỷ tự của triều đình và các quan thái giám, các phật tử, chùa Từ Hiếu trở thành một ngôi chùa lớn.
Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu, chùa chính ba căn, hai chái. Chính điện phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu Đường, ở giữa thờ Đức Thánh Quan, bên trái thờ Hương Linh Phật Tử tại gia, bên phải thờ các vị thái giám..., bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).
Cổng chùa xây theo kiểu vòm cuốn hai tầng, phía trên chính giữa thờ tượng Hộ pháp. Trong cổng tam quan có hồ bán nguyệt thả hoa sen, hoa súng và cá cảnh. Hai bên sân có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa.
Năm 1894, hoà thượng Cương Kỷ tiếp tục trùng tu và kiến thiết toàn cảnh với sự giúp đỡ của vua Thành Thái, các giám quan và nhiều phật tử. Năm 1931, hoà thượng Huệ Minh tiếp tục trùng tu và xây hồ bán nguyệt. Năm 1962, hòa thượng Chơn Thiệt tiếp tục trùng tu chùa. Chùa được Thượng tọa Chí Niệm cho trùng tu cửa tam quan, hồ bán nguyệt và những nhà cửa bị hư hỏng. Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn ở cố đô Huế.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam