Hiển thị các bài đăng có nhãn Nha Trang- Nhà Thờ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nha Trang- Nhà Thờ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Nhà thờ Giáo Xứ Thánh Gia Nha Trang


Vị trí và lịch sử



Địa chỉ : 10 Võ thị Sáu, Nha Trang
Chánh xứ : Linh mục Ðinh Viết Cư - SVD

Tel
058.881.100 
E-mail
  
Năm thành lập
  
Số giáo dân
502 

Giờ lễ
Chúa nhật     : 5:30   -   7:30
Ngày thường : 5:00   -   17:30


Lược sử Giáo xứ Thánh Gia
1. Vị trí địa lý
Ðông giáp Biển Nha Trang. Tây Bắc giáp Giáo xứ Phước Hoà (đường mới làm đi Ðồng Bò). Nam giáp sông Ðồng Bò. Bắc giáp Giáo xứ Khiết Tâm (đường Dã Tượng, đường ngang chợ ra đường Lê Hồng Phong). Gồm các Phường: Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên và Phước Hải.
2. Hình thành và phát triển
Giáo xứ thánh gia được thành lập năm 1955 do Linh mục Nguyễn cao Hiên. Linh Mục Bùi Chu khởi sự.
Khuôn viên nhà Xứ lúc này toạ lạc trên đất của làng trường Tây, xã Vĩnh Nguyên (ngày nay nơi này vẫn còn tên gọi là khu Thánh Gia)
Linh mục Hiên trưng đất làm nhà thờ trường học. Nhưng công việc xây cất chưa xong thì Ngài đổi vào Sài Gòn.
Chức vụ Cha sở Thánh Gia lúc bấy giờ chỉ là một chức vụ kiêm nhiệm, lần lượt được giao cho quí Linh mục sau đây:
Lm Alexandre Trí, Thừa sai, tuyên uư Dòng Thánh Giuse (1955-1956)
Lm Gioan Ðổ hưng Phong, Cha sở họ Khiết tâm (1956-1957)
Lm Augustinô Ðinh xuân Vinh (kể từ 20-9 -1957) Là tuyên uư Dòng Thánh Giuse kiêm Cha sở Giáo xứ Thánh Gia cho đến tháng 4 năm 1975.
Vừa tiếp nhận Giáo Xứ Thánh Gia Linh mục Vinh liền bắt tay vào việc tiếp tục hoàn thành công trình xây dựng dở dang của Linh mục Hiên. Nhưng nhà thờ và trường học vừa xây xong thì bỗng có tin giải toả khu vực này. Nhờ tranh đấu ráo riết và nhờ sự can thiệp của Ðức cố Giám Mục Giáo Phận, chính phủ chịu bồi thường để nhà xứ dời đi nơi khác.
Nhà Xứ được dời đến khu đất mua lại của Dòng Chúa Cứu Thế Nha Trang với diện tích 10500m2 bên cạnh Dòng Thánh Giuse, Cha Vinh bắt đầu xây cất Thánh đường mới và các cơ sở phụ thuộc công trình xây dựng được khởi sự vào hạ tuần tháng 8 năm1964 đến trung tuần tháng 9 năm 1967 mới tạm xong nhưng nhà thờ chưa có mặt tiềân và tháp chuông.
Kế tiếp Linh mục Augustinô Ðinh Xuân Vinh là Linh mục Ðôminicô Hà long Ẩn thuộc Dòng thánh Giuse (kể từ tháng 4.1975). Khi Linh mục Dominicô Hà long Ẩn qua đời, Linh mục Clêmentê Lưu Minh Hoàng Dòng Thánh Giuse thay thế từ 1977 - 1994.
Tiếp theo Linh mục Clêmentê Lưu Minh Hoàng là Linh mục Ðanien Ðinh Viết Cư (Dòng Thánh Giuse) kế nhiệm kể từ tháng 11.1994 đến nay.
Tình trạng ngôi thánh đường vì trước kia xây xất chưa hoàn chỉnh nên ngày càng xuống cầp trầm trọng, Cha xứ phải chạy tiền để tu bổ và bảo dưỡng ngội thánh đường. Sau khi giáo dân đóng góp và xin được một số tiền của các vị ân nhân Hải Ngoại. Nhờ sự giúp đỡ của Ðức Giám Mục Giáo phận. Linh mục quản xứ và giáo dân đã khởi công đại tu vào ngày 18.7.1996 đến tết Ðinh Sửu 1997 thì công việc tạm hoàn tất.
Ðại đa số giáo dân là những người ở các nơi khác đến sinh sống tại địa phương. Họ sống lẫn lộn với lương dân trên một địa bàn rất rộng lớn gồm 3 phường: Phước Hải, Vĩnh Trường và Vĩnh Nguyên nên vấn đề sinh hoạt mục vụ hết sức khó khăn và phức tạp đặc biệt đối với một vài giáo dân sống ở hai Hải Ðảo Trí Nguyên và Bích Ðầm xa xôi, cách trở. Ðể tích cực sống đạo, giáo xứ được chia ra thành 4 liên ái theo từng khu vực liên cư liên địa. Hàng tuần luân phiên đọc kinh và sinh hoạt liên ái tại mỗi gia đình để chia sẻ với nhau những khó khăn, vui buồn trong cuộc sống vật chất và tinh thần
Sưu tầm

GIÁO XỨ THANH HẢI NHA TRANG

Vị trí và lịch sử
  • Thành lập: 1951
  • Bổn mạng: Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
  • Kính ngày: 8/12 Số giáo dân: 2740 người
  • Linh mục quản xứ: Phêrô Mai Tính
  • Địa chỉ hiện nay: 33-35 Bắc Sơn Nha Trang.
  • Chầu Ḿnh Thánh Chúa:
  • Giờ lễ
Thánh lễ Chúa Nhật
  • Thánh lễ I: 5g 00
  • Thánh lễ II: 17g00
Thánh lễ ngày thường
  •  Sáng 4g45
  • Chiều 18g30

Lược sử:
1. Vị trí địa lư
Giáo xứ Thanh Hải có diện tích khoảng 3 cây số vuông. Đông giáp biển, kéo dài từ Ḥn Chồng đến đầu đường Mai Xuân Thưởng. Tây giáp đường rày xe lửa và một số gia đ́nh gần trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung
 Ương II. Nam giáp đường Ḥn Chồng kéo dài đến chân núi sạn. Bắc giáp đèo Rù Rỳ kéo dài đến Nghĩa trang Bắc thành phố.
2. H́nh thành và phát triển
Thanh Hải là một giáo xứ nằm trên bờ biển đông bắc thị xă Nha Trang, cách Toà Giám Mục độ 4 cây số. Với bộ mặt ngày nay của nó, khách du lịch từ xa tới sẽ tưởng Thanh Hải là một xứ đạo đă có từ nhiều năm, nhưng thực ra, nó chỉ là một ấp tân lập, một giáo xứ mới được hơn 20 tuổi đời. Vào khoảng năm 1945,có 4,5 gia
 đ́nh Công giáo từ mấy xứ lân cận Nha Trang đến sinh sống tại ấp Phú Xương hiện nay. Tiếp đó, sau cuộc chiến chinh bùng nổ, lại có thêm mấy chục gia đ́nh nữa, họ tới tạm trú xung quanh tu viện Phanxicô, chân
 đồi xóm Bóng, để được yên sống dưới sự che chở, nâng đỡ của các Linh mục Ḍng Phanxicô. Vốn là những nhà truyền giáo, tuy âm thầm lặng lẽ nhưng nhiệt thành hăng hái, từ lâu hằng ôm ấp một mộng ước gầy dựng được những xứ đạo trên bờ biển hoang vắng này, các Linh mục ḍng phanxicô đă lợi dụng ngay thời cơ để thực hiện mộng ước trên. Các Ngài đă qui tụ tất cả những gia đ́nh đó về Phú Xương, và tạm cất một ngôi nhà
 nguyện nhỏ để tối sớm họ có chỗ đọc kinh dâng lễ.
Giáo xứ Thanh Hải ngày nay đă thành h́nh từ đó và công đầu là của các Cha Ḍng Phanxicô Nha Trang. Chúa Quan Pḥng đă chấp thuận và chúc phúc cho công việc của các Ngài bằng cách tạo ra cơ hội để cho nó được tiến triển và lớn mạnh lên. Phong trào di cư vĩ đại năm 1954 rồi những xáo trộn trong những năm kế tiếp, đă đem vào Phú Xương một số khá lớn đồng bào công giáo di cư từ Bắc-Việt, và tị nạn từ các tĩnh miền Trung khiến cho Phú Xương đột nhiên trở thành một khu Công Giáo đông đảo. Sung sướng nh́n thấy ước vọng gần
 được thể hiện, các Linh mục ḍng càng thêm phấn khởi và cố quyết đi đến thành công. Các Ngài đă biệt phái hẵn một Linh mục, Cha Dương Liên Mỹ, đảm nhiệm và điều hành công việc. Được sử dụng theo đúng sở thích và khả năng, rộng lớn hơn khu Phú Xương, để có thể dung nạp được số giáo dân hiện đă khá đông và chắc chắn sẽ c̣n đông hơn trong tương lai. Ngài đă giải quyết vấn đề mau lẹ và dể dàng.
Trên bờ biển từ Ḥn Chồng đến Đồng Đế, có một khu đất hoang, trên hai cây số vuông, phong cảnh đẹp, khí hậu tốt, có thể là một địa điểm định cư rất thích hợp được nhắm tới đă từ lâu Ngài nhất quyết chọn địa điểm này và sau khi đă được chính quyền địa phương chấp thuận cho phép định cư tại đó những đồng bào Công giáo đang tạm trú tại Phú Xương, Ngài liền cho khai quang, phân lộ và chia đất cho họ, hướng dẫn và giúp họ làm nhà cửa; đồng thời, Ngài cũng cho xây cất một nhà thờ đủ dung nạp số giáo dân hiện có, và một trường rộng răi mát mẽ. Thế là một họ Đạo đă thật sự thành lập với danh hiệu là Thanh Hải, và họ mới Thanh Hải vẫn c̣n được
 Linh mục Dương Liên Mỹ lănh đạo cho tới năm 1957.
Sau đó Linh mục Trần Hữu Đức, cũng thuộc ḍng Phanxicô về thay thế và làm việc trong 3 năm ở họ này, để giữ vững và tổ chức họ cho có quy cũ hơn, Ngài đă thành công. Tới đây công việc thành lập họ Thanh Hải coi như đă hoàn tất, và các Linh mục Ḍng Phanxico đă trao lại cho giáo sĩ Địa Phận quyền lănh đạo và hướng dẫn. Năm 1959 Đức Giám Mục Giáo Phận đă chính thức nâng họ Thanh Hải lên thành một giáo xứ với đầy đủ tư cách, quyền lợi theo Giáo Luật và cử Linh mục Lê Hồng Thanh làm Cha sở của Giáo xứ mới. Từ đây,và nhất là từ khi trong địa hạt xứ Thanh Hải có thêm 3 cơ sở Công giáo lớn: Chủng viện Sao Biển, Nhà nữ tu Cát Minh và nhà chi nhánh Thánh Giá Trinh Vương (G̣ Thị) th́ bộ mặt Thanh Hải đă thay đổi hẳn, và một luồng sinh khí mới đă 
tràn ngập Giáo xứ này, khiến cho càng được đà tiến lên mạnh hơn.
Chỉ nội trong 9,10 năm dưới thời ba Cha sở: Lê Hồng Thanh (1959-1964), Nguyễn Hữu Ban (1964-1966), Nguyễn Quang Sách (1966-1967) xứ Thanh Hải đă tiến được những bước dài trong mọi mặt. Số giáo dân từ 3,4 trăm đă nhảy lên đến 1.600; nội bộ được tổ chức khá qui củ, Nhà trường được tu bổ lại rộng răi khang trang hơn với số học sinh tương đối đông đúc; các hội đoàn lần lượt được thành lập, sinh hoạt đạo đức trong xứ sốt sắng.
Linh mục Phan Văn Nguyện đến nhận xứ năm 1967. Công tác trọng tâm của Ngài là đă cùng với Hội Đồng Tư Vấn và Giáo xứ hô hào, đôn đốc cho giáo dân xây lại ngôi Thánh đường. Đây là công việc cấp bách cần được thi hành gấp rút: Thánh đường cũ đă phải hạ xuống v́ thời gian và mối mọt đă làm hư hỏng gần hết, đàng
 khác, số giáo dân gia tăng quá mau lẹ, sức sinh hoạt đạo đức của xứ và của các hội đoàn, cũng như nghi thức mới của Phụng vụ, tất cả đều đ̣i hỏi một Thánh đường rộng lớn hơn và thích hợp hơn. Công việc thật cấp 
bách và hết sức khó khăn, nhất là trong giai đoạn này. Nhưng mọi người đều đă cố gắng, lại nhờ sự giúp đỡ rộng răi của Đức Giám Mục Địa Phận, các linh mục và anh em giáo dân trong cũng như ngoài Địa Phận, ngôi Thánh đường đồ sộ nguy nga đă được hoàn thành nội trong một năm: đặt viên đá đầu tiên 08-03-1970 và dâng thánh lễ thứ nhất - đêm giao thừa ngày 26-01-1971.

Vấn đề Thánh đường đă được giải quyết xong. Từ đây, tất cả trọng tâm hoạt động Giáo xứ sẽ được qui tụ về sinh hoạt đạo đức và đời sống giáo dân. Hiện nay có các khu: A, B, C, D và khu: Phú Đồng, Rù Rỳ, Xóm Nhỏ
Các Linh Mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay:
·         Lm Bernado Dương liên Mỹ và Lm Anphongsô Trần Phước Đức 1951 - 1959
·         Lm Phêrô Lê Hồng Thanh 1959 - 1961
·         Lm Gioan Baotixita Nguyễn Hữu Ban 1964 - 1967
·         Lm Nguyễn Quang Sách 1967 - 1968
·         Lm Augustinô Phạm Văn Nguyện 1968 - 1975
·         Lm Giuse Nguyễn Quang Huy 1975 - 14/10/2006
·         Lm phó Mai Xuân Vĩnh 1997-2002
·         Lm GB. Nguyễn Hữu Bút 2002-2004
·         Lm. Phêrô Mai Tính 14/10/2006 - nay
 Sưu tầm

Nhà thờ Giáo Xứ Phước Hòa Nha Trang


Vị Trí và lịch sử



Địa chỉ : 80. Lê Hồng Phong, Nha trang
Chánh xứ : Linh mục Phanxicô Xaviê Trần Xuân Thứ

Tel
058.871.368
E-mail
 
Năm thành lập
25/7/1972
Bổn Mạng  Thánh Giuse Thợ (1/5)
Số giáo dân
2150

Giờ lễ
Chúa nhật     : 5:00   -   7:00   -   15:30
Ngày thường : 4:15   -   17:00
Lược sử Giáo xứ Phước Hòa
1. Vị trí địa lý
Giáo Xứ Phước Hoà ở về phía tây nam, thành phố Nha Trang, trong phạm vi hai phường Phước Hoà và Phước Hải và hai xã Phước Thái, Phước Ðồng.
Ðông giáp Giáo xứ Khiết Tâm, Giáo xứ Giuse, Giáo xứ Phước Hải, và Giáo xứ Chánh Toà (đường Lê Hồng Phong, ranh giới Bắc sân bay, đường Trần Nhật Duật, đường Cao Bá Quát, đường Lê Hồng Phong). Tây giáp Núi Ðồng Bò. Tây Bắc giáp Giáo xứ Bình Cang (đường đất từ Thế Thông vào Ðồng Bò). Nam giáp sông Ðồng Bò và Giáo xứ Thánh Gia (đường mới đi qua Ðồng Bò). Bắc giáp Giáo xứ Chánh Toà, Chợ Mới (đường xe lửa từ Mã Vòng đến Thế Thông).
Vì nhu cầu của giáo dân từ nhiều nơi đến sinh cơ lập nghiệp nên giáo xứ ngày càng mở rộng. Cho đến nay diện tích khoảng chừng 15 km2, trải dài từ thành phố đến cánh đồng Thái Thông, Thuỷ Tú.thuộc xã Vĩnh Thái, qua vùng đầm lầy, sông sâu Ðồng Rọ rồi kéo dài đến các vùng non xanh hẻo lánh. Kinh tế đất lành, Suối Lùng, Phước Bình, Phước Hạ, Trảng É, Hòn Rớ, Sông Lô.thuộc xã Phước Ðồng.
2. Hình thành và phát triển
Ðể công cuộc mở mang nước Chúa được hữu hiệu. Ước vọng của Ðức Giám Mục Phanxicô Nguyễn Văn Thuận là xây được nhiều thánh đường nhỏ ở các trung tâm đông dân cư. Thực hành ước vọng đó trong năm 1970 ngài đã chấp thuận cho kiến thiết 4 ngôi thánh đường ở bốn địa điểm tại thị xã Nha Trang: khu Hà Ra trên quốc lộ I, khu Nguyễn Bỉnh Khiêm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu Quân Trấn trên đường Hùng Vương và khu Lữ Gia trên đường Lữ Gia. Ðó là lý do hiện hữu của ngôi thánh đường Giuse số 80 đường Lữ Gia.
Trung tâm của một giáo xứ đang hình thành, đây là ngôi thánh đường thứ hai sắp hoàn thành sau thánh đường Fatima khu Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bốn thánh đường hoạch định xây cất. Thánh đường này lẽ ra được kiến thiết năm1964 dưới thời Ðức Cố Giám Mục Piquet. Công tác chọn địa điểm sắp hình thành thì phải đình hoãn vì lý do thời cuộc và hành chánh.
Viên đá đầu tiên được Ðức Giám Mục Phanxicô Xavie đặt vào ngày 19-03-1971 trên một thửa đất hẹp 15x35 do chính tay ngài mua cho và công cuộc xúc tiến xây cất được anh em giáo dân đảm trách dưới nhiều hình thức: lạc viên tài vật xây cất. Ðể ghi nhớ ơn Ðức Giám Mục, cha tổng đại diện và cũng là cha xứ của giáo khu giáo dân có địa điểm xây cất, dựï định lấy bổn mạng Phanxicô của Ðức Giám Mục đặt tên ngôi thánh đường, nhưng ý Ðức Giám Mục muốn chọn thánh Giuse, vị thánh đã tích cực giúp đỡ ngài trên bước đường tông đồ nhất là trên phương diện tài chính. Ngài cũng muốn thánh Giuse đặc biệt giúp phương tiện kiến thiết ngôi thánh đường này, mà khi đặt viên đá đầu tiên. Ban kiến thiết chưa có một đồng cắc nào cả. Ngày này, ngôi thánh đường sắp hoàn thành, tuy không đồ sộ nguy nga, nhưng không kém phần thanh lịch mỹ quan. Quả thật bàn tay thánh Giuse đã âm thầm nâng đỡ đặc biệt như đã thấy ở đoạn sau.
Khó khăn trong buổi đầu là thành lập một ban kiến thiết. Ðịa điểm xây cất nằm trên phầøn đất của giáo xứ Chính Toà, mà giáo dân của giáo xứ tương lai trên phần nữa của giáo xứ Phước Hải. Công tác phối hợp trách nhiệm thật gay go nhưng cũng vượt qua được, một số giáo dân có thiện chí của hai khu đã cộng tác với nhau thật chặt chẽ để lo việc chung.
Ngoài sự lo lắng của Linh mục tổng đại diện Nguyễn Công Nghị và Linh mục phó Chính Toà Nguyễn Ðức Bửu, ban kiến thiết phải vất vả trong công tác quyên góp khắp nơi trong ngoài Giáo Phận. Hoạ đồ kiến thiết phải thay đổi nhiều lần: khi hứng khởi sốt sắng, anh em lo vẽ địa đồ một ngôi thánh đường có lầu để lấy tầng trệt làm học đường công giáo. Nhưng lực bất tòng tâm, khi chạm thực tế tài chính thì ai nấy hầu như ngã lòng mà phải tính xây dựng tạm cung thánh để có chỗ cử hành thánh lễ, còn bên dưới che tôn cho giáo dân đứng dự lễ. Cuối cùng trông cậy thánh cả Giuse, công tác kiến thiết với quuyết định chung: "đến đâu hay đến đó". Nổ lực rồi cậy trông bề gì thánh quan thầy xưa kia đã từng cất nhà thuê cho thiên hạ kia mà. Rất tiếc là xưa ngài không lãnh thầu, nên để con cái chật vật chạy tiền trả công thợ từng bữa. Cả ngôi thánh đường với kinh phí lên đến ngót triệu rưỡi mà được thực hiện bằng công nhật, có tiền thì gọi thợ làm hết tiền thì tạm nghĩ. Có nhiều lúc như không biết lấy gì trả công thợ cho ngày hôm sau thì đi đến những anh em quanh thị xã để quyên góp lai rai. Thánh Giuse lo liệu cho ngay. Có một lần 10 anh khất sĩ vào Cam Ranh quyên cả buổi sáng không có kết quả gì cả, tụ hợp nhau lại than vãn không biết làm sao trả công thợ cho ngày mai, nửa giờ sau đó anh em quyên được 50 ngàn. Lần khác cũng gập lúc quẫn bách về tiền công thợ như vậy. Một anh tháp tùng linh mục đi Qui Nhơn có công việc riêng, trong khi trò chuyện qua loa với một người quen về công việc xây cất nhà thờ. Thánh Giuse soi sáng lòng mạnh thường quân ấy ủng hộ trên một trăm xấp. Ðến khi ngôi thánh đường sắp hoàn thành mạnh thường quân cung cấp dâng cúng thánh đường ngày càng tăng: nào tượng, chặng đàng thánh giá, đèn, quạt, hệ thống âm thanh, bàn thợ phụ. Ðặc biệt bàn thờ chính, về khâu mỹ thuật thì đẹp đẽ và lộng lẫy do một mạnh thường quân tân tòng ở Qui Nhơn dâng cúng.
Lễ khánh thành được tổ chức vào ngày giáp năm lễ đặt viên đá đầu tiên và cũng là lễ thánh quan thầy Giuse 19-03-1972.
Ngày nay tuy chưa phải thực thụ là một giáo xứ lớn,nhưng chúng tôi cũng xin có đôi dòng để ca tụng thánh cả Giuse và xin ngài cầu bầu cho những ai làm ơn cho việc hình thành ngôi thánh đường, cùng xin cho giáo xứ ngày càng tiến triển, con người thăng tiến, để nơi đây biến thành trung tâm phát động tôn sùng "vị thánh âm thầm".
Có một giáo họ. Trước đây giáo họ này mang tên là giáo họ Phước Ðồng, nay đổi lại là giáo khu 6 Phước Ðồng.
Các linh mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay:
Lm Phêrô Bùi Duy Nghiệp (1972-1975).
Lm Simon Võ Kinh (1975-1982).
Lm Alexis Nguyễn Thạch Ngọc (1982-1990).
Lm Phêrô Trần Hữu Thành (1990- 1994).
Lm Fx.Trần Xuân Thứ (1994- nay).
Sưu tầm

Giáo xứ Phước Hải Nha trang

Vị trí và lịch sử
Địa chỉ: 30 Trương Định Nha Trang, Việt Nam
ĐT: 0583.514617

Lược sử
1. Vị trí địa lý  : 
Với diện tích 75.000 m2, Giáo xứ Phước Hải nằm trong ba phường : Tân Lập, Phước Ḥa và Phước Tiến.
Phía Đông giáp đường Trịnh Phong (các địa chỉ nhà có số chẵn) - giáo xứ Bắc Thành, phía tây giáp đường Trần Nhật Duật (các địa chỉ nhà có số lẻ) giáo xứ Giuse, phía Bắc giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai (các địa chỉ nhà có số chẵn) giáo xứ Phuớc Ḥa và phía nam giáp đường Phước Hải - giáo xứ Chính ṭa.

 
2. H́nh thành và phát triển.
Công cuộc di cư 1954 đưa một số dân công giáo lớn đến Nhatrang. Họ là những giáo dân thuộc các địa phận miền bắc như Hà nội, Hải pḥng, Hải Dương, Sơn Tây, Việt Tŕ, Thái B́nh, Bắc Ninh, Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa. Với những mái lá đơn sơ được dựng lên vội vàng dọc các đường Lê Thánh Tôn, Hàm nghi, họ đă góp công góp của để dựng lên nguyện đường Bắc Thành. Tuy nhiên, do nhu cầu mục vụ ngày càng tăng, hơn nữa với hai lần hỏa hoạn khiến nhiều nhà cửa bị tàn phá, Tổng ủy di cư quyết định cho thành lập một khu định cư lấy tên là Phước Hải. Lúc ấy chỉ độ 100 gia đ́nh với hơn 500 người lớn nhỏ.
Với hoài băo được thỏa măn đời sống siêu nhiên, Những người dân mới băn khoăn lo lắng về việc xây cất một nguyện đường để tụ họp cầu nguyện, dâng lễ và dạy giáo lư cho con em. Tin mừng được loan đi khi Đức Giám mục đương thời là Đức Cha Marcel Piquet cho t́m một số đại diện để gặp Ngài để đáp ứng hoài băo của giáo dân là Ngài cho xây cất một Thánh Đường và cử về đây một linh mục coi sóc xứ Đạo.
Một tuần sau đó, do sự can thiệp của Ṭa Giám Mục, Chính quyền địa phương đă cấp cho xứ Phước Hải một mảng đất tọa lạc cuối đường Nguyễn Hoàng (nay chính là Ngô Gia tự) gần 1000m2 để xây cất Thánh Đường. Cùng với việc ổn định đời sống, dựng nhà dựng cửa, giáo dân Phước Hải lại dốc toàn lực, góp công góp của góp thời giờ ngày đêm tiến hành xây Nhà thờ
Khu đất lúc bấy giờ là một chỗ trũng sâu khoảng 2m so với mặt đường. trong thời gian 20 ngày đêm công tác đổ nền đă hoàn thành cao hơn mặt lộ.
Ngày 28.8.1958 Đức Giám Mục điạ phận đến làm Lễ đặt viên đá đầu tiên một cách trọng thể với sự tham gia của quư Linh mục, Tu sĩ, đại diện chính quyền, và toàn thể giáo dân Phước Hải cũng như các giáo xứ lân cận.
Nhà thờ giáo xứ Phước Hải có nét giống Nhà nguyện Tiểu Chủng Viện Sao Biển. Thật vậy, công tŕnh được thực hiện trọn vẹn phải kể đến công sức của Cha Lê Công Khuơng. Ngài đă lo liệu để Nhà thờ được hoàn thành trong một thời gian kỷ lục là 9 tháng. Nét kiến trúc không tân kỳ nhưng khá vững chắc và khang trang với chiều rộng 12m, chiều dài 24m, b́nh dị tọa lạc giữa cḥm xóm như muốn ôm ấp những con dân ngoan ngùy, hiền lành thời ấy, vị trí và nét kiến trúc ảnh hưởng không ít đến sự dung dị và đời sống mến Chúa yêu người của người dân giáo xứ.
Ngày 5.6.1960, Nhân lễ Hiện Xuống, xứ Phước hải hân hoan đón nhận vị Chủ Chăn địa phận đến làm phép Thánh đường và cử hành thánh lễ đầu tiên với niềm hân hoan phấn khởi dạt dào.
Ngày 28.6.1960 Giáo xứ Phước Hải được chính thức công nhận trong hệ thống tổ chức địa phận và đước phận định ranh giới rơ rệt.
Các linh mục quản xứ và phó xứ từ ngày thành lập đến nay :
Lm Khổng Tiên Giác (2 tháng)
Lm Giuse Mai xuân Quư (gần 2 năm)
Lm Phêrô Vơ viết Hiền kể từ ngày 30.6.1963 đến 14.3.1983.
Lm Phêrô Lê Văn Ninh giúp Cha Phêrô Vơ Viết Hiền kể từ sau ngày 30.04.1974 đến ngày 14.3.1983 sau đó làm quản xứ đến 5.6.1989.
Hiện nay là Lm Giuse Nguyễn Thế Thoại, cộng tác với Ngài có
Lm phó Inhatio Hồ Thông (một năm)
Lm phó Tađêô Nguyễn Đ́nh Phúc
Sưu tầm 

Nhà thờ Giáo xứ Vĩnh Phước Nha Trang



Vị trí và lịch sử
Địa chỉ :      Tổ 32 Khu Phố Trường Phúc - Vĩnh Phước, Nha Trang.
Chánh xứ : Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Khắc Lâm

Tel
831112. 
E-mail
  
Năm thành lập
  
Số giáo dân
2216 

Giờ lễ
Chúa nhật     : 5:00   -   7:15   -   16:00
Ngày thường : 4:30   -   17:00
Lược sử Giáo xứ Vĩnh Phước
1. Vị trí địa lý
Giáo xứ Vĩnh Phước nằm dọc hai bên Ðường 2 tháng 4: Ðông giáp biển Nam Hải với 3 trung tâm Kitô Giáo nằm sát ven biển trên đồi cao là Trường Dòng Các Sư Huynh Lasan, Tu viện Phanxicô và Thần học viện Tin Lành, nay trở thành Trường Ðại Học Thuỷ Sản, Trường Hành Chính, Trung tâm bồi dưỡng và Trường kế toán trung cấp... Phía Tây giáp chân Núi Sạn với bệnh viện to lớn gọi là Trung Tâm Bài Cùi được các tu sĩ Phanxicô và giáo dân xứ đạo Vĩnh Phúc thiết lập, ngày nay gọi là Bệnh Viện Da Liễu... Phía Nam giáp Sông Cái, Phía Bắc giáp Phường Vĩnh Hải với Trung Tâm Dưỡng Lão Rù Rì to lớn, cũng do các tu sĩ Phanxicô và giáo dân Vĩnh Phước góp phần xây dựng.
2 Hình thành và phát triển
Giáo xứ Vĩnh Phước có tên có tuổi trong Giáo phận Nha Trang kể từ 1957. Trước 1964 gọi là Họ Ðạo Cù Lao, vì số giáo dân thu hẹp ở trên địa bàn làng Cù Lao, thuộc Xã Vĩnh Phước. Khi số giáo dân tăng lên đông đảo ở rải rác trên toàn Xã, thì Họ Ðạo Cù Lao lại được đổi tên là Giáo Xứ Vĩnh Phước. Ngày nay, Xã Vĩnh Phước được chia thành hai Phường: Vĩnh Phước và Vĩnh Thọ. Ðể tránh sự nhầm lẫn với Nhà thờ Vĩnh Phước của anh em Tin Lành, Nhà thờ Giáo xứ Vĩnh Phước được gọi là nhà thờ An-Tôn Vĩnh Phước.
Trong địa bàn của Giáo xứ, có thắng cảnh Tháp Bà, một cổ tháp do dân tộc Chàm xây dựng đã 1900 năm, trên một ngọn núi nhỏ, sát đường 2-4, kề bên chiếc cầu Bóng nổi tiếng bắc qua Sông Cái, dài 300m, vững chắc và tráng lệ.
Một buổi chiều hè, đông đảo dân chúng tới thưởng thức những làn gió mát của biển khơi và ngắm nhìn những đoàn tàu thuyền qua lại trên Bến Cá.
Lại còn có thắng cảnh Hòn Chồng thơ mộng với những tảng đá to lớn ngâm mình trong nước, chồng chất lên nhau tạo thành một vẻ đẹp hùng tráng đầy quyến rũ. Nơi đây có hang đá để nấp mưa, ẩn gió, nơi kia có chỗ dựa lưng ngồi ngắm cảnh trời mây nghe tiếng sóng vỗ, đưa mắt liếc sóng biển mênh mông vô tận. Các du khách cũng như dân địa phương cũng thích đến chỗ này để thưởng thức cảnh đạp thiên nhiên. Ðến một lần sẽ nhớ mãi không quên.
Từ năm 1930, Dòng Các Sư Huynh Lasan đến đặt cơ sở tu trì và giáo dục ở đồi Cù Lao, một số giáo dân từ Quảng Trị, Thừa Thiên vào đây sinh sống giúp các việc nội dịch cho Dòng, lập cư gần tu viện. Năm 1939, tiếp theo lại có các tu sĩ Dòng Phanxicô Khó Nghèo đến khai thác một quả đồi gần bên và xây dựng nên Tu Viện. Công trình xây dựng này đã chiêu tập một số lớn công nhân mà phần đông là người Công Giáo. Do đó, số dân lại được tăng thêm. Việc sinh hoạt tôn giáo của các giáo dân này đều nhờ vào Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, Tuyên uư cho Dòng Lasan lúc bấy giờ, giáo dân thường xuyên tham dự thánh lễ ở nhà thờ Dòng Lasan hoặc Dòng Phanxicô.
Năm 1947, chiến tranh tạm ngừng, các Linh mục Dòng Phanxicô bắt đầu tiếp xúc và hướng dẫn số dân này về phần thiêng liêng.
Năm 1949, Linh mục Bernard Dương Liên Mỹ, Dòng Phanxicô, được cử coi sóc bà con giáo dân ở Cù Lao, đồng thời dạy dỗ một số anh chị em "Tân tòng" từ Lương Sơn di cư vào Phú Xương. Vì nghĩ rằng trong tương lai sẽ có nhiều người tân tòng ở Phú Xương hơn ở Cù Lao, nên Ngài đã cất tạm một nhà thờ ở Phú Xương, đối với Trường Hạ Sĩ Quan Ðồng Ðế bấy giờ. Số giáo dân Cù Lao nhập lại với số giáo dân Phú Xương thành lập họ Phú Xương (Thư T.G.M Nha Trang, 20.12.1950).
Nhưng năm 1953, nhà thờ Phú Xương phải dời về địa điểm Thanh Hải. Và từ đó xứ Phú Xương lại đổi tên là xứ Thanh Hải. Xứ đạo này sau khi đã có cơ sở vững vàng, có trường Tiểu Học Nam Thông, Dòng Phanxicô đã giao lại cho giáo phận Nha Trang từ hè năm 1959.
Năm 1954, với phong trào di cư vào Nam, số giáo dân từ Hà Tĩnh, Quãng Trị tới định cư ở Cù Lao rất đông. đầu năm 1959, Cù Lao đã có 96 gia đình, gồm 370 người. Cùng thời điểm này, Cù Lao được tách rời khỏi Thanh Hải, để trở thành một số nhà chính thức, có Cha Alix Bourgeois Dòng Phanxicô làm Cha Sở (Thư T.G.M Nha Trang ngày 1.9.1955).Năm 1956, xứ Cù Lao đã có 200 gia đình với số giáo dân tăng lên 938 người.
Vì nhu cầu bắt buộc, năm 1957, một ngôi Thánh đường đã được cất lên gấn Quốc lộ I (nay là đường 2 tháng 4) rộng 6m, dài 20m (năm 1978, ngôi Nhà Thờ này đã nhường lại cho các Tu sĩ Phanxicô làm Tu viện hiện nay).
Nha Trang có địa lợi, nhân tài, có danh lam thắng cảnh hấp dẫn thập phương, đồng bào khắp nơi tìm về đây xây dựng cuộc sống. Riêng ở xứ Vĩnh Phước, năm 1962, số giáo dân đã tăng lên 1540 người.
Nhà thờ xây cất năm 1957, nay đã hoá ra chật hẹp lần nữa lại phải đặt ra vấn đề làm lại Nhà thờ cho rộng rãi hơn.
Ngày 7/4/1963, Ðức Cha Piquet, Giám mục Giáo phận Nha Trang đã đến đặt viên đá gốc cho Nhà thờ. Cùng năm ấy, xứ Cù Lao được đổi tên là xứ Vĩnh Phước. Nhờ sự khích lệ, giúp đỡ của Giáo phận về mặt tinh thần cũng như vật chất, các xứ Ðạo đàn anh, đàn chị đã gởi tiền ủng hộ. Mọi giáo dân trong xứ Vĩnh Phước, ai ai cũng nô nức sẵn sàng góp công, góp của để thực hiện việc xây cất. Riêng đối với bà con của hai Khu giáo làng chài Phêrô và Phaolô ngoài sự phân bổ nghĩa vụ đóng của Giáo xứ, bà con trong 2 Khu giáo đã dùng ngày Chúa nhật đem thuyền ra khơi đánh cá "đổ đồng" giúp Giáo xứ.
Với sự cố gắng phi thường của bà con giáo dân sở tại, kết hợp với sự hỗ trợ rộng rãi của các ân nhân xa gần, đặc biệt với tinh thần năng nỗ tích cực của Linh mục Alix Bourgeois, và Ban Hành Giáo xứ. Sau thời gian 8 tháng vất vả và lao nhọc, giáo xứ đã hoàn thành xây dựng ngôi nhà thờ với chiều rộng 15m và chiều dài 50m. Ðầu năm 1965, Linh mục Gerard Phạm Anh Thái đươc bổ nhiệm làm Cha Sở thay Linh mục Alix. Số giáo dân có 316 gia đình với 2053 cuối năm 1966, nhưng cuối năm 1967 số giáo dân lại tăng lên 371 gia đình.
Năm 1969, Linh mục Berard Trần Bá Phiên được bổ nhiệm làm Cha Sở thay Cha Thái. Với tinh thần hoạt bát năng nổ của ngài, kết hợp với tin thần đạo đức tận tình giúp đỡ của bà con giáo dân và ân nhân xa gần.Giáo xứ lại xây thêm một nhà ở cho Cha Xứ, nhà hội cho các lớp Giáo lý và lớp Thiếu Nhi Thánh Thể - Năm 1974, số Giáo dân đã tăng lên tới 2548 người.
Năm 1975, biến cố giải phóng miền Nam đã gây ra sự di tản của một số bà con giáo dân trong xứ đạo, một số đi về quê, một số đi vùng kinh tế mới hoặc đi ra nước ngoài,số giáo dân đã giảm xuống chỉ còn độ 1500 người. Tuy nhiên, cho đến năm 1997, giáo xứ lại được tăng lên 450 gia đình với số giáo dân khoảng 2200 người.
Trong lúc giao thời, Linh mục Phêrô B. Ðỗ Long Bộ đã giữ trách nhiệm Cha Sở xứ Ðạo thay Linh mục Berard Phiên từ 1975 đến 1978. Giáo xứ Vĩnh Phước có một đặc điểm đáng ghi nhớ là từ ngày khai sinh đến nay, các Linh mục quản xứ đều là các linh mục Dòng Phanxicô. Linh Mục Vincentê Hoàng Văn Lư, được bổ nhiệm làm Cha Sở từ tháng Giêng năm 1979, có các anh em Tu sĩ Phanxicô ở lại Tu Viện kế bên Nhà thờ giúp đỡ làm công việc phục vụ giáo dân trong giáo xứ.
Tháng 11 năm 1990, nhận thấy nhận thấy Nhà thờ được xây cất từ 1963 có nhiều mặt xuống cấp trầm trọng vì trải qua biết bao nắng mưa sương gió, giáo xứ đã phải trùng tu lại nhà thờ hợp với hoàn cảnh và nhu cầu cần thiết. Hiện nay, giáo xứ được diễm phúc có một ngôi Thánh Ðường mới, tôn nghiêm, bề thế, với tháp chuông cao 20m, sánh vai với các ngôi Thánh Ðường lớn có tầm cỡ trong giáo phận nhà.
                  
Tóm lại giáo xứ Vĩnh Phước từ ngày khai sinh đã từng bước được hướng dẫn, dưỡng nuôi trong tình thương bao la và lòng đạo đức gương mẫu của quí Linh mục, quí thầy Dòng Phanxicô, nên đã lớn khôn, trưởng thành như ngày nay. Ðặc biệt là Linh mục Alix Bourgeois, người có công khai sinh ra Giáo xứ, vàø Cha Vincentê Hoàng Văn Lư, với 19 năm trong trách nhiệm làm Cha Sở, tiếp tục vun đắp công việc của các vị tiền nhiệm. Ngài có công rất nhiều trong việc tái thiết, kiện toàn dung mạo của Nhà thờ và của Giáo xứ từ nội dung đến hình thức như hiện có.
Vậy, Giáo xứ Vĩnh Phước tuy rằng gồm các giáo dân ở nhiều địa phương tụ họp lại, khác tập quán, khác cung giọng, nhưng qua thời gian đã chung lưng góp sức xây dựng, lắm lúc phải giũa gọt mới suông sẽ, thế nhưng ngày nay cũng nhờ sự dị biệt đó mà tất cả đã nên như nhiều cành hoa khác nhau, gom thành một đoá hoa lắm sắc muôn màu trong Giáo phận Nha Trang vậy.
Các Linh Mục quản xứ thuộc Dòng Phanxicô
Lm Alix Bourgeois 1955 - 1965
Lm Gérard Phạm Anh Thái 1965 - 1967
Lm Clêrueutê Trần Thế Minh 1967 - 1969
Lm Bérard Trần Bá Phiên 1969 - 1975
Lm Phêrô Baptista Ðỗ Long Bộ 1975 - 1979
Lm Vincentê Hoàng Văn Lư 1979 - 1998
Lm Giuse Nguyễn Xuân Quý 1998 - đến nay
Sưu tầm

Nhà thờ Giáo Xứ Phù Sa Nhà Trang




Vị trí và lịch sử
Địa chỉ :  Xuân Ngọc, Vĩnh Ngọc, Nhatrang, Khánh Hoà.
Chánh xứ : Linh mục Lu-y Nguyễn Phúc Hải

Tel
 
E-mail
 
Năm thành lập
1978
Bổn Mạng 
Số giáo dân
1320

Giờ lễ
Chúa nhật     :  5:00   -   16:30    Thứ Bảy : 18:00
Ngày thường : 4:30 (Thứ 2,5,7)   -   16:30 (Thứ 3,4,5)


Lược sử Giáo xứ Phù Sa
1. Vị trí địa lư
Đông giáp Giáo xứ Thanh Hải (đường rầy xe lửa từ cầu sắt đến Đèo Rù Ŕ). Đông Nam giáp Giáo xứ Ngọc Thuỷ (Cầu xe lửa). Tây giáp Giáo xứ Đại Điền (đường đất từ Quốc lộ đến cầu Xuân Phong). Nam giáp Giáo xứ Chợ Mới (Sông Cái). Bắc giáp Giáo xứ Đại Điền (Quốc lộ I + Núi Ḥn Dung). Gồm hai thôn Xuân Ngọc (Xă Vĩnh Ngọc) và Ḥn Nghê (Vĩnh Phương).
2. Hình thành và phát triển
Xuôi ḍng sông cái, bên kia bến đ̣ Phú Kiển, ẩn khuất sau những ngọn dừa và bạch đàn là một ngôi nhà thờ nhỏ, đó là ngôi nhà thờ giáo xứ Phù Sa
Cũng như giáo xứ Ngọc Thuỷ, giáo xứ Phù Sa trước đay là họ lẻ của giáo xứ Chợ Mới. Không biết người Công giáo có mặt ở đây lúc nào nhưng chắc trên phần đất này đă có người ở từ lâu, v́ có nhiều mộ của người Chăm và theo điều được ghi trên phần mộ cụ Bùi Đức Vinh, người đă có nhiều đóng góp xây dựng lực lượng Tây Sơn ở Khánh Hoà nữa cuối thế kỷ 18.
Riêng người Công giáo theo chứng từ của một số người th́ vào giai đoạn cấm đạo của Vua Tự Đức một số người Công giáo ở đây đă hy sinh v́ đạo Chúa, như gia đ́nh ông Phúc 7 người bị chôn sống trong một cái hầm, ông Lê Truyền bị nhốt vào nhà và bị đốt chết, người con trai của ông, tên là Mên, bị thích h́nh Thánh giá lên mặt, cháu chắc của những người này hiện c̣n sống ở đây.
Cho tới ngày 17.12.1978 khi một số tu sĩ, linh mục ḍng Phanxicô, phải rời tu viện ở Khóm Ḥn Chồng, Phường Vĩnh Phước về đây thành lập cộng đoàn. Phù Sa trở thành giáo xứ với đầy đủ mọi sinh họat Tôn giáo.
Vào năm 1972, để nhớ bậc cha ông đă hy sinh v́ Chúa, một công trường được xây sau phần đất mà các Ngài đă hy sinh, với danh hiệu là Công trường Nữ Vương các Thánh Tử Đạo.
Giáo dân Phù Sa hiền hoà, đa số sống bằng nghè làm nông, nương rẫy. Tŕnh độ học vấn trước đây rất thấp nhưng từ năm 1980 nhờ sự giúp đỡ của Cộng đoàn Phanxicô giới trẻ đă bắt đầu tới trường thường xuyên hơn. Kết quả cho thấy mỗi năm trong thôn dều có các em thi tốt nghiệp phổ thông. Một số có thể tiếp tục lên Đại học, một số đă tốt nghiệp sư phạm cũng như các ngành khác như tin học. quản trị kinh doanh. Hiện nay, số trẻ tiểu học khoảng 97% tới trường, học sinh cấp II và III khỏang 55%. Nhờ việc phát triển học vấn mà bộ mặt sinh hoạt trong thôn xóm đă thay đổi, sự hiểu biết của bà con đă nhanh nhạy hơn trước nhiều, cụ thể đă có ư thức trong việc bảo vệ môi trường, trồng cây gây rừng, giữ vệ sinh chung, hơp tác với các địa phương chung quanh xây dựng thôn xóm, phát triển nông thôn.
Giáo xứ hiện nay có 4 khu giáo :
Khu giáo Têrêxa hài đồng Giêsu
Khu giáo Phêrô và Phaolô
Khu giáo Nữ vương các thánh tử đạo
Khu giáo Giuse
Các linh mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay :
Linh mục Gioakim Nguyễn Văn Có 1978-1993
Linh mục Gioan TC Nguyễn Phước 1993 - 1994
Linh mục Gioakim Nguyễn Văn Khoan 1994 - 1999
Linh mục Giuse Ðặng Minh Tuấn 1999-2003
Linh mục Luy Nguyễn Phúc Hải 2003- đến nay
Sưu tầm

Nhà thờ Giáo Xứ Ngọc Thủy Nha Trang




Vị trí và lịch sử

Địa chỉ :  Khóm Ngọc Thảo, Phường Ngọc Hiệp,
Chánh xứ : Linh mục Phêrô Mai Tính
Tel
058-358-9378
E-mail
 
Năm thành lập
  2/2/1887
Bổn Mạng  Thánh Giuse Thợ (1/5)
Số giáo dân
  1039
Giờ lễ
Chúa nhật     :  5:30   -   16:00
Ngày thường : 18:00
Lược sử  Giáo xứ Ngọc Thuỷ
1. Vị trí địa lý
Giáo xứ gồm hai đảo nhỏ, được nối liền bằng một cầu gỗ. Ðông giáp Giáo Xứ Ngọc Thanh. Tây giáp Chợ Mới và Phù Sa. Nam giáp Giáo Xứ Chánh Toà. Bắc giáp Giáo xứ Vĩnh Phước.
2. Hình thành và phát triển
Trên giòng sông cái Nha Trang, mạng Cửa Bé có bốn Cồn: cồn trên, cồn dưới, nối liền bằng cây cầu bắt ngang, đó là xứ Ngọc Thuỷ; còn hai cồn kia, là " Việt Cường" (không có người ở) và Hà Ra (đa số lương dân). Ngày xưa có ba anh em chú bác họ, gốc Chợ Mới là ông Lê Văn Tình, Lê Văn Lem và Nguyễn Văn Hiền, đã đưa nhau xuống khai phá rừng hoang, tả ngạn sông cái Nha Trang, phía núi Sạn. Lúc bấy giờ Ngọc Thuỷ và núi Sạn còn là đất liền. Ngày ấy là ngày 2-2-1887.
Ðám rừng này cây cối rất um tùm có những góc thầu dầu to đến nỗi ba đến bốn người ôm mới suể, có những con rắn lớn bằng bắp chân. Cọp beo đầy dẫy, ông bà kể lại có lúc đang chặt mía gặp chúng, và không ngần ngại dùng ngay cây mía để đánh đuổi. Về đêm từng đàn chim tập trung về ngủ.
Ðốn cây, phát bụi, dựng trại, họ trồng trỉa dưa, khoai, bắp, mì, mía đỏ. Lúc đầu sớm đi, tối về. Nhưng về sau, con cái đông đảo, họ cất nhà ở lại và tính việc lập họ. Họ đã được cố Lập, Cha Xứ Chợ Mới cho phép dựng lên ngôi nhà nguyện đầu tiên mái tranh, vách đất, tại phía núi (vùng nghĩa địa bây giơ)ø tục gọi là Bầu Quai, và lấy tên mới gọi là Gò Dê. Vùng này lúc đó có nhiều cây "phân vê" một thứ nhãn rừng khi trái chín, rụng xuống đen giống như phân dê.
Với thời gian ngôi nhà nguyện bị hư hỏng, lần này ông Lê Văn Tam với các Ông Lê Văn Túc, Lê Văn Lâu, Lê Văn Xe, Nguyễn Dưỡng, Nguyễn Trốn bàn định xin Cố Thiện cho phép giỡ nhà và dời về đám đất ở giữa Cồn, tục gọi là Dũng Gò Lớn (nơi nhà ông biện phần ở bây giờ). Nhà nguyện này được xây cất bằng gạch, lợp ngói và chọn thánh Giuse làm quan thầy.
Thời kỳ này, đất đai đã được canh tác khá nhiều, họ làm thêm nghề chài lưói và nuôi bò.cá, tôm, cua thì vô kể: cá đối, cá hồng, cá hanh, cá dìa. Chài vài tiếng có thể hớt được hai rổ lớn.
Qua năm 1937, nhà nguyện phần bị hư, phần vì hẹp, nên được xây cất lại với phép của Cha Thạnh, trên đất do ông Lê Văn Túc, Lê Văn Tứ và bà Lê Thị Ðại dâng cúng. Ðó là địa điểm ngôi nhà thờ hiện tại. Năm 1968, nhà thờ này được nối thêm, xây lại mặt tiền và dựng lên tháp chuông: công tác trùng tu được hoàn thành vào ngày Lễ Mông Triệu. Ðồng thời, để giúp các em nhỏ có nơi học hành khỏi phải đi xa, Chính Phủ đã xây cất một lớp mẫu giáo cạnh nhà thờ, vào năm 1965.
Dân chúng mỗi ngày một đông, đất đai đã được khai phá gần hết, những trũng sâu đã được cấy lúa nhưng vì không mấy kết quả nên họ chuyển sang nghề trồng cỏ để bán cho viện Pasteur, chăn nuôi súc vật. Và do đó mà có cái tên là ấp Ngọc Thảo, lúc Chính Phủ thành lập khu này thành ấp vào năm 1966. Chiến tranh vẫn tiếp tục, cuộc sống đã xoay đổi hẳn, làm ruộng cũng như trồng cỏ không thấy lợi mấy, bổn đạo bàn trồng dừa nuôi heo và làm công sở.
Mấy mươi năm qua, dưới bóng dừa rậm mát, những ngôi nhà xinh xinh mọc lên như trăm hoa đua nở. Thêm vào đó, bốn bề tứ phía, chỉ nước là nước. Khác nào viên ngọc trên dòng sông nước biết Nha Trang. Nên năm 1967, khi được thành lập xứ đạo, tên mới Ngọc Thuỷ đã thay thế cho tên cũ: Gò Dê.
Về việc đạo, Gò Dê hoàn toàn trực thuộc ở Cha Xứ Chợ Mới. Nhưng trong thực tế vì khó khăn đi lại thời ấy Cha Hiếu cho phép giáo dân cậy nhờ các cha dòng Phanxicô Cù Lao lên giúp. Giáo dân tuy ít thật nhưng nhờ sự cố gắng của mỗi người, họ đạo đã sớm trưởng thành và vững mạnøh. Ngày 28-08-1967 Ðức Cha Ðịa Phận Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận đã giao hẳn cho dòng Phanxicô và thành lập giáo xứ biệt lập.
Các Linh Mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay:
Lm Gêrađô Phạm anh Thái 1968 - 1970
Lm Matthêu Nguyễn vinh Phúc 1970-1981
Lm Antôn Nguyễn văn Bình 1981-2000
Lm Giuse Nguyễn Xuân Dũng 2000-
Hoa quả ơn gọi của giáo xứ
Lm Nguyễn văn A (Nguyễn Tường Vy)
Lm Lê văn Thanh (Bỉ)
Frère Colomba Lê văn Ðào (Lasan)
Frère Alexandre Lê văn Ánh (Lasan)
Nữ tu: Phanxica Lê thị Ðiệp
Sưu tầm

Giáo xứ Ngọc Thanh Nha trang

Vị Trí và lịch sử
Địa chỉ: 230 Đường 2/4 ,Nha Trang, 

Lược sử
Ngọc Thanh xuất phát từ thí điểm truyền giáo trên phần đất của Giáo xứ Antôn Vĩnh Phước - Nha Trang, nằm giữa hai đầu cầu Bắc Hà Ra và Nam cầu Bóng. Khóm Hà Ra - Hà Phước phường Vĩnh Phước, Nha Trang: Hiện nay gồm số giáo dân giáp nam cầu Hà Ra, phần đất của Giáo xứ Chánh Toà. Khóm Vạn Trung phường Vạn Thắng: phần đ�...
Ngọc Thanh xuất phát từ thí điểm truyền giáo trên phần đất của Giáo xứ Antôn Vĩnh Phước - Nha Trang, nằm giữa hai đầu cầu Bắc Hà Ra và Nam cầu Bóng. Khóm Hà Ra - Hà Phước phường Vĩnh Phước, Nha Trang: Hiện nay gồm số giáo dân giáp nam cầu Hà Ra, phần đất của Giáo xứ Chánh Toà. Khóm Vạn Trung phường Vạn Thắng: phần đất của Giáo xứ Hoà Thuận. Số giáo dân cụm Ngọc Sơn, Ngọc Hiệp, Nha Trang nằm trên phần đất của Giáo Xứ Ngọc Thuỷ. Ðó là khóm Vạn Lợi, Phường Vạn Thạnh, Nha Trang. Ngọc Thanh nằm hai bên bờ sông Cái và sông Hà Ra, có Quốc lộ I đi ngang qua, nối đất liền bằng hai cầu Hà Ra và cầu Bóng.

2. Hình thành và phát triển
Do chiến tranh và yêu cầu an ninh, nhân dân tập trung về đô thị. Ðầu năm 1972, một nhà nguyện nền xi măng mái tôn tận dụng được dựng nên để đáp ứng nhu cầu tôn giáo cho số giáo dân sống dọc đường quốc lộ I từ đầu cầu Bắc Hà Ra đến Nam cầu Xóm bóng. Nhà nguyện này là một trong 3 thí điểm truyền giáo (hai điểm khác là nhà thờ Hoà Thuận và nhà thờ Phước Hoà) được Ðức Giám mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận cho phép thành lập tại Nha Trang. Linh mục Giêrađô Phạm Anh Thái được linh mục Matthêo Nguyễn Vinh Phúc thay thế vào giữa năm 1972. Nhà thờ hoạt động vào mỗi Chúa nhật. Lễ xong, linh mục về Dòng Phanxicô trên đồi Lasan. Cuối năm 1978 (20.12.1978) do chính quyền Tỉnh Phú Khánh quản lý toàn diện nhà và đất của Dòng, nên một phần của hội Dòng Phanxicô gồm 4 anh em gồm: (Matthêo Nguyễn Vinh Phúc, Carmêlô Trần Văn Phúc,Phaolô Nguyễn Ðình Vinh và Phanxicô Xavie Nguyễn Hạnh Phúc), đứng đầu là Matthêo Nguyễn Vinh Phúc, người xây nhà cộng đoàn và ở mãi đến ngày nay (vật liệu như đá, gỗ, tôn, được chuyển từ nhà nguyện Vĩnh Hội, Ngọc Hiệp Nha Trang) với sự đồng ý của Ðức Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hoà và chính quyền Tỉnh Phú Khánh.

Năm 1987 (13.08.1987) 9 năm sau, chính quyền Tỉnh Phú Khánh cho phép xây nhà nguyện mới như hiện nay. Khởi công ngày 21.9.1987 và cơ bản kết thúc, khánh thành vào ngày 25.12.1987 (3 tháng) với sự giúp đỡ toàn diện của giới công giáo, bạn bè trong và ngoài nước. Tượng phù điêu trong hang đá, cửa hoa bằng sắt hình chim bồ câu trên quả địa cầu nhắc lại sứ mạng hoà bình của Chúa Hài Ðồng. Phông Bàn thờ trình bày hai bàn tiệc: Bàn tiệc Lời Chúa bằng Kinh Thánh và bàn tiệcø Thánh Thể bằng nhà tạm). Hai bên thánh giá, Chúa Giêsu đang dâng Thánh lễ đầu tiên và kéo dài đến tận thế.

Ngày 28.01.1988 xây dựng lại nhà ở cộng đoàn phần trước. Năm 1991 (20.031991) xây dựng nhà ở cộng đoàn ở phía sau. 06.1995 xây dựng gác trên nhà bếp và nhà vệ sinh đồng thời xây dựng gác phòng thánh, và gác nhà nguyện bên trên nhà kho.

Các Linh Mục Phụ trách giáo xứ:

Phanxicô Xaviê Nguyễn Hạnh Phúc, Dòng Phanxicô.
Phaolô Nguyễn Ðình Vịnh, Dòng Phanxicô.
Camêlô Trần Văn Phúc, Dòng Phanxicô.
Giêrađô Phạm Anh Thái, Dòng Phanxicô.
Matthêu Nguyễn Vinh Phúc, Dòng Phanxicô.

Sưu tầm

GIÁO XỨ LƯƠNG SƠN

Vị trí và lịch sử
  • Thành lập: 8.1954
  • Bổn mạng: Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
  • Kính ngày: 15.8
  • Số giáo dân: 312 / 12.500 theo năm 1997
  • Linh mục quản xứ: Phaolô Andrê Nguyễn lộc Huệ
  • Ðịa chỉ hiện nay: Văn Ðăng, Vĩnh Lương, Nha Trang, Khánh Hoà
  • Ðiện thoại: 839209
  • Chầu Mình Thánh Chúa: Chúa Nhật XVI TN
  • Giờ lễ
Thánh lễ Chúa Nhật
  • Thánh lễ I: 5g 30
  • Thánh lễ II: 8g00
Thánh lễ ngày thường
  •  Sáng 4g30
Lược sử
1. Vị trí địa lý
  • Ðông giáp Biển Ðông.
  • Tây giáp núi.
  • Nam giáp Giáo xứ Ðại Ðiền, Phù Sa, Thanh Hải, Ba Làng (Ðèo Rù Rì).
  • Bắc giáp Giáo xứ Ninh Hoà, Mỹ Phước (Ðèo Rọ Tượng).
  • Gồm Xã Vĩnh Lương và Ninh Ích.
Lương sơn là mộ làng thuộc xã Vĩnh oơng nằm về phía bắc Thành phố Nha Trang các trung tâm thành phố khoảng 12 km. Ðịa thế Lương Sơn chạy dài từ đèo Rù Rì dọc theo quốc lộ 1 đến Cát Lợi độ 7 km. Ðông giáp Biển Ðông. Tây giáp núi. Nam giáp Giáo xứ Ðại Ðiền, Phù Sa, Thanh Hải, Ba Làng (Ðèo Rù Rì). Bắc giáp Giáo xứ Ninh Hoà, Mỹ Phước (Ðèo Rọ Tượng). Gồm Xã Vĩnh Lương và Ninh Ích.
2. Hình thành và phát triển
Vào khoảng năm 1945 Lương Sơn chỉ là một ấp nhỏ có vài ba chục nóc nhà ở giữa rừng hoang vắng, đất sống của cọp beo. Dân chúng kẻ thì ngư phủ người thì cầy đất vỡ rừng. Trong số này có khoảng bảy gia đình được Lm Bernard Mỹ dòng Phanxicô rửa tội. Ðó là hạt nhân của xứ đạo Lương Sơn. Những hạt nhân đó khi trở về xứ sở đã không phát triển nhưng hư thối. Dần dà họ đã bỏ đạo hết chỉ còn ba đến bốn gia đình giữ đạo.
Tháng 08 năm 1945 khoảng 500 giáo dân từ giáo phận Vinh đến sinh sống.
Tháng 7.1954 một trại định cư được thiết lập gần bờ biển dành cho đồng bào sinh sống bằng nghề biển. Số giáo dân tăng dần từ 500 đến 1000 người mà không có Nhà thờ nên Giáo dân lấy nhà định cư làm sẵn để làm Nhà nguyện. Linh mục Phanxicô Phạm sĩ Tăng là Cha sở đầu tiên coi sóc số giáo dân này.
Tháng 8.1855 Linh mục Phêrô Phùng Viết Mỹ đến thay Cha Tăng. Ngài và giáo dân quyết định xây nhà thờ trên khu đất thuộc làng Văn Ðăng, sườn nhà thờ bằng gỗ mái lợp tôn cimăng, vách bằng gạch vôi, Ngoài ra giáo xứ còn có thêm mộ phòng y tế, một trường học.
Năm 1960 - 1963 một số lớn giáo dân đi lập cư ở Buôn Ma Thuột, Bình Tuy, Xóm Bóng (Nha Trang), chỉ còn lại trên dưới 200 người. Trong khi đó Linh mục không thường xuyên có mặt ở Giáo xứ tuy các chủ nhật vẫn có Thánh lễ.cho đến 1976 mới có Cha sở.
Ðến ngày 05.01.1997, số giáo dân còn lại 312 người, tỉ lệ 1,73% dân số trên địa bàn giáo xứ. Ða số sống bằng làm rẫy, làm thuê, một số ít đi biển và buôn bán nhỏ.
Giáo xứ Lương sơn từ khi thành lập đến nay trải qua bao thăng trầm nhưng giáo dân vẫn giữ vững một niềm tin. Quả là một hồng ân.
Các linh mục phụ trách họ đạo:
  • Lm F.x Phạm sĩ Tăng: 08.1954 - 08.1955
  • Lm Phêrô Phùng viết Mỹ: 08.1955 - 1957
  • Lm Giuse Trần chính Cư: 12.1957 - 02.1960
  • Lm Dom Nguyễn trung Thành: 03.1960 - 1963
  • Lm Phanxicô Lê văn Sự: 01.1964 - 08.1964
  • Lm Phêrô Lê hồng Thanh: 08.1964 - 03 1975
  • Lm Alexis Nguyễn thạch Ngọc 08.1975 - 1976
  • Lm Phêrô Phạm ngọc Phi: 1976 - 1981
  • Lm Matthêu Nguyễn vinh Phúc: 1981 - 1990
  • 04.1990 - 10.1996 Lm Camilô Trần văn Phúc
  • 06.10.1996 đến nay Lm Phaolô Andrê Nguyễn lộc Huệ
 Sưu tầm

Nhà thờ Giáo Xứ Khiết Tâm




Vị trí và lịch sử
Địa chỉ : 14 Hoàng Diệu, Vĩnh Nguyên
Chánh xứ : Linh mục  Gioan Nguyễn Hoài An

Tel
058 388-1834 
E-mail
  
Năm thành lập
1956 
Số giáo dân
528 

Giờ lễ
Chúa nhật     :5:00   -   17:00
Ngày thường : 17:15
Lược sử Giáo xứ Khiết Tâm
1. Vị trí địa lư
Đông giáp Biển NhaTrang. Tây giáp Giáo xứ Phước Hoà (đường Lê Hồng Phong). Nam giáp Giáo xứ Thánh Gia (đường Dă Tượng, đường ngang chợ ra đường Lê Hồng Phong). Bắc giáp Giáo xứ Giuse (đường ranh giới Nam sân bay). Gồm hai Phường: Vĩnh Trường và Phước Hải.
2. Hình thành và phát triển
Sau cuộc di cư vĩ đại 20.7.1954, quân đội Pháp đi chuyển lính Commandos de la Marine, nay gọi là Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam vào chiếm đóng tại ven biển Nha trang, từ Cầu Đá, Cửa Bé tới Phi Trường Nha Trang.
V́ số gia đ́nh binh sĩ Công Giáo di dân đông đảo chừng 4000 người, Đức Giám Mục Marcel Piquet về Sài G̣n vận động với Đức Giám Mục Phêrô Phạm Ngọc Chi phụ trách các Linh mục và đồng bào Bắc Việt di cư trạch cử một Linh mục đi đến phụ trách.
Ngày 6.11.56 Linh mục Gioan Đỗ Hưng Phong, thụ phong linh mục ngày 31.5.45 nhận bài sai từ Sài G̣n ra nhận lập xứ Khiết Tâm Nha Trang. Linh mục Gioan Phong với thầy giảng già Giuse Đỗ Công Chiệu, là thầy dạy hồi nhỏ và là người đồng hương cùng nhau chung sức thành lập xứ Khiết Tâm Quân Đội.
Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam hồi đó đặt tên doanh trại là trại Hoàng Diệu, cho phép làm nhà thờ và chùa để nâng đỡ quân nhân và gia đ́nh về mặt tinh thần tôn giáo. Nhà thờ Khiết tâm được h́nh thành từ ngày 10.11.1956. Sau biến cố 1963, quân nhân và gia đ́nh thủy quan lục chiến di chuyển về Thủ Đức. Nhà thờ chỉ c̣n lại chừng hơn 100 giáo nhân.
Đầu năm 1964, cho tới năm 1971 khu trại Hoàng Diệu biến thành khu gia binh lớn cho các gia đ́nh quân binh chủng Việt Nam (đồng thời lúc đó quân đội Mỹ bắt đầu chiếm đóng Cam ranh và Nhatrang)
Nhà thờ Khiết tâm bị hư hỏng nặng nên nhờ quân đội giúp vật chất để tái thiết.
Công cuộc tái thiết bắt đầu từ 1.4.1971 tới 30.7.1971 hoàn thành với cây tháp bằng bốn cây sắt cao 15 m do Trung tá Giuse Nguyễn Đ́nh Vũ, tiểu đoàn trưởng công binh kiến tạo lưu niệm dựng xong ngày 28.8.1971. Nhà thờ móiw dài 32m, cao 5m, rộng 12m xây gạch lợp tôn.
Trong thời gian sau 1975 linh mục quản xứ Đỗ Hưng Phong được mời đi cải tạo, giáo xứ đă được sự chăm sóc mục vụ của Các linh mục Ḍng Thánh Giuse
Năm 1993. Linh mục Ngô Hành Ḍng Thánh Giuse được chinh thức bổ nhiệm về coi xứ, Ngài đă kiến thiết thêm một dăy nhà Giáo lư cũng như phát triển các Hội Đoàn đưa Giáo xứ Khiết Tâm đi lên, tiến thêm những bước dài trong các sinh hoạt tôn giáo, giáo dục xă hội. ĐCV Sao Biển trực thuộc phần đất của giáo xứ Khiết Tâm nên có phần ưu ái trong các sinh hoạt tôn giáo của Giáo Phận được tổ chức tại ĐCV.
Các linh mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay :
Lm Gioan Đỗ Hưng Phong 1956 -1975
Lm Giuse Đạo Minh1976 - 1978
Lm Clementê Lưu Minh Hoàng1979 - 1992
Lm Phaolô Ngô Hành1993 đến nay
Sưu tầm

GIÁO XỨ HOÀ THUẬN

Vị trí và lịch sử
  • Thành lập: 1971
  • Bổn mạng: Sinh Nhật Ðức Mẹ
  • Kính ngày: 8.9
  • Số giáo dân: 1000
  • Linh mục quản xứ: Giacôbê Nguyễn Văn Vĩnh
  • Ðịa chỉ hiện nay: 49 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nha Trang
  • Ðt: 058.813661
  • Chầu Mình Thánh Chúa: Chúa Nhật VII TN
  • Giờ lễ
Thánh lễ Chúa Nhật
  • Thánh lễ I: 5g
  • Thánh lễ II: 7g
  • Thánh lễ III: 16g30
  • Thánh lễ IV: 18g00 
Thánh lễ ngày thường
  • Sáng 4g45
  • Chiều 17g15

Lược sử
1. Vị trí địa lý
Người Công giáo tập trung chủ yếu thuộc các đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bến Chợ, Cồn giữa, Khu Tân Trang. Phía Ðông giáp Biển Nha Trang, Tây giáp các đường Ðoàn thị Ðiểm, Bến Chợ, Khu Tân Trang, Nguyễn Thái Học, Sinh Trung, Ôn Như Hầu, Trưng Nữ Vương. Nam giáp Giáo xứ Chánh Toà (các đường Lê Lợi, Phan Bội Châu, Thống Nhất, Hai tháng Tư). Bắc giáp Giáo Xứ Vĩnh Phước (Sông Hà Ra). Ðịa giới hành chính thuộc Phường Xương Huân và Vạn Thạnh.
2. Hình thành và phát triển
Nguyện đường Fatima trước kia, nay là giáo xứ Hoà Thuận, được xây cất trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc phường Xương Huân, thành phố Nha Trang. Ðức Cha Phanxicô Xaviê làm phép khánh thành ngày 23.5.1971.
Dân số trên 20.000 người, phần đông là giới lao động, có trên 100 gia đình Công giáo (1971) thuộc giáo xứ Chính Toà. Từ 1968 - 1970 cố linh mục Giuse Nguyễn Công Nghi quản xứ Chính Toà, Các Ðấng bề trên Dòng Chúa Cứu Thế cũng như Toà Giám Mục rất lưu tâm đến việc xây cất cho khu vực truyền giáo Fatima một nguyện đường. Nhưng dần dà qua nhiều trở ngại khó khăn chưa thực hiện được. Mãi đến 1971 Linh mục An tôn Phạm Văn Nam, bề trên Dòng Chúa Cứu Thế nhân dịp đến thăm khu Nguyên Bỉnh Khiêm đã khơi lại ước vọng cũ cùng các vị đại diện giáo dân trong khu. Thời cơ thuận tiện đã đến, chính Ngài đã đích thân kiên lạc khắp nơi đồng thời đứng ra một buổi họp dự thảo kế hoạch và dự án xây cất nguyện đường trình Toà Giám Mục duyệt chuẩn.
Khởi điểm từ một khoảng đất trống để củi do ông Anrê Huỳnh Cải hiến dâng cùng với công của của các ông: Huỳnh Cải, Lâm ngọc Kiệm, Nguyễn Duy Vỵ, Ðoàn văn Chiêm, Phạm viết Tường.. và một số giáo dân là cựu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế giúp sức. Một tuần sau ngày khởi công, ngày 17.3.1971, Ðức Cha Phanxicô Nguyễn Văn Thuận đến thăm, thấy việc xây cất tiến triển khả quan, nên Ngài đã dâng cúng một số tiền và đặt tên là Nguyện Ðường Fatima
Nguyện đường được hoàn thành ngày 10.5.1971 và ngày 23.5.1971 Ðức Cha FX. Nguyễn văn Thuận đến làm phép khánh thành với sự tham dự đông đảo của các tu sĩ nam nữ, cãc quan khánh chính quyền, tôn giáo bạn và toàn thể giáo dân trong khu vực.
Cuối tháng 10.1975, nguyện đường Fatima được nâng lên hàng giáo xứ và được Ðức Cha Phaolô Nguyễn văn Hoà đổi tên thành giáo xứ Hoà Thuận.
Các Linh mục quản xứ và phó xứ từ ngày thành lập đến nay:
  • Lm Giuse Nguyễn Quang Thạnh: từ 23.5.1971 - 15.9.1972
  • Lm Giuse Trần Thanh Phong: từ 20.9.1972 đến 18.10.1973
  • Lm Simom Võ Kinh: từ 20.10.1972 - 10.7.1974
  • Lm Phêrô Phạm Dương Thái: từ 20.7.1974 - 29.6.1992
  • Lm Phêrô Ðõ Văn Ðông: giúp 9 tháng
  • Lm Giuse Phan Thiện Ân: 1.7.1992 - 13.12.1992
  • Lm Gicôbê Nguyễn Văn Vĩnh từ 14.12.1992 đến nay
    Sưu tầm

GIÁO XỨ GIUSE (Quân Trấn)

Vị trí và lịch sử
  • Thành lập:
  • Bổn mạng: Thánh Giuse
  • Kính ngày: 19.3
  • Số giáo dân:
  • Linh mục quản xứ: Giuse Phan Thiện Ân DCCT
  • Ðịa chỉ hiện nay: 53 đường Hùng Vương,Nha Trang
  • Ðiện Thoại 058.825803
  • Chầu Mình Thánh Chúa:
  • Giờ lễ
Thánh lễ Chúa Nhật
  • Thánh lễ I : 5g
  • Thánh lễ II : 15g
  • Thánh lễ III : 18g30
Thánh lễ ngày thường
  • Sáng 4g45
  • Chiều 18g15
Lược sử

1. Vị trí địa lư

Đông giáp Biển Nha Trang. Tây giáp Giáo xứ Phước Hoà (đường Lê Hồng Phong). Nam giáp Giáo xứ Khiết Tâm (đường ranh giới Nam sân bay). Bắc giáp ba Giáo xứ :Phước Hoà (đường ranh giới Bắc sân bay), Phước Hải và Bắc Thành (đường Nguyễn Thị Minh Khai). Gồm các Phường: Lộc Thọ, Tân Lập, Phước Hoà, Phước Hải và Vĩnh Nguyên.

2. H́nh thành và phát triển

Năm 1960 linh quản xứ Phước Hải Giuse Mai Xuân Quư, tổ chức Giáo xứ, phân làm 5 giáo khu A, B, C, D, E mỗi giáo khu có ban hành giáo, Giáo khu Giuse là giáo khu E.
Năm 1963 linh mục Phêrô Vơ Viết Hiền làm quản xứ thay linh mục Giuse Mai Xuân Quư. Sau một thời gian xin phép chính quyền, ngày 27.7.1967 được cấp một khoảng đất trong khu Quan Trấn. Năm 17.8.1970, chính quyền cho phép làm một nhà nhỏ, tạm làm nhà nguyện và nơi sinh hoạt của giáo khu, Linh mục quản xứ nhờ linh mục Phêrô Mai Bảo Thư đến dâng lễ các ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.
Ngày 1.10.1973 Linh mục Antôn Phạm văn Nam được bổ nhiệm phụ trách thường xuyên. Ngày 25.10.1973 giáo khu được phép xây nhà thờ, khởi công đến 20.7.1974 th́ hoàn thành. Ngày 1.12.1974 giáo khu được nâng lên thành giáo xứ tách khởi xứ mẹ Phước Hải, lấy tên là Giáo xứ Giuse và chọn Ngài làm thánh quan thầy.Lễ mừng ngày 19.3.
Khu vực nhà thờ: Thửa đất rộng 16m70 dài 51m.Nằm trong doanh trại Quân trấn.Nay là 53 đường Hùng Vương. Tuy nhiên, với chương tŕnh mở rộng và chỉnh trang thành phố, Con đường Hung Vuơng được mở rộng, Giáo xư mất đi một diện tích không nhỏ. V́ thế Linh mục quan xứ Phạm van Nam vận động để xây dựng Hội trương duy tŕ các sinh hoạt hội đoàn.
Khi mới lập giáo khu:có 37 gia đ́nh với 239 giáo dân. Khi thành giáo xứ: 1973 có 86 gia đ́nh với1.202 giáo dân. 1975 một số giáo dân di tản đi nhiều nơi. 1997 có 154 gia đ́nh lớn, nhỏ với 593 giáo dân.
Các linh mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay :
  • Lm Giuse Mai Xuân Quư
  • Lm Phêrô Vơ Viết Hiền
  • Lm Phêrô Mai Bảo Thư
  • Lm Antôn PhạmVăn Nam
  • Lm Giuse Phan Thiện Ân
Sưu tầm


Nhà thờ Giáo Xứ Chợ Mới




Vị trí và kịch sử
Địa chỉ : Ngọc Hội, Vĩnh Ngọc, Nha Trang
Chánh xứ : Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần

Tel
058-389-1117
E-mail
 
Năm thành lập
 
Bổn Mạng
Số giáo dân
  1860

Giờ lễ
Chúa nhật     :  5:00   -   7:00  -  18:15 (thứ 7)
Ngày thường :  4:30   -   18:15 (Thiếu nhi)
1. Vị trí địa lý
Giáo xứ Chợ Mới gồm các xã: Xã Vĩnh Ngọc, một phần Xã Vĩnh Thạnh và một phần Phường Ngọc Hiệp với một diện tích rộng khoảng 40 km2.
Nhà thờ Chợ Mới toạ lạc trên Thôn Ngọc Hội, Xã Vĩnh Ngọc, Thành Phố Nha Trang, Tỉnh Khánh Hoà.
Ðông giáp Giáo xứ Chánh Toà (Ranh giới Khóm Vĩnh Hội + Lư Cấm + Cầu Chợ Mới).Tây giáp Giáo xứ Bình Cang (Cầu Dứa - Bến đò Xuân Phong).Nam giáp Giáo xứ Phước Hoà (Ðường rầy xe lửa Nha Trang - Sàigòn). Bắc giáp Giáo xứ Phù Sa (Sông Cái).
2. Hình thành và phát triển
Không ai có thể quả quyết là đạo Công Giáo phát xuất tại địa phương này từ lúc nào, năm nào. Nhưng chắc chắn là đạo Công Giáo đã có mặt tại đây trên 300 năm, vì lịch sử ghi rằng: Ðức Cha Phêrô Lambert de la Motte cùng hai Linh mục tiên khởi là Cha Giuse Trang và Cha Luca Bền, với hai vị Thừa Sai là Linh mục Mahot và Linh mục Vachet, đã rời Thái Lan ngày 20.07.1671 khởi hành sang Việt Nam. Thuyền của các Ngài gặp cơn bảo táp dữ dội tại đảo Phú Quốc. Sau cuộc hành trình gian lao và nguy hiểm, Ðức Cha đã đến Nha Trang vào cuối tháng 08.1671, Ðức Cha sợ bị tiết lộ, chính quyền sẽ bắt giam và cơn cấm đạo sẽ bùng lên làm thiệt cho giáo dân, nên Ngài kiếm nơi cho chắc chắn để cẩn mật cập bến ban đêm. Một Linh mục Việt Nam đi báo tin cho Ban Chức Việc. Ngày hôm sau, lúc 10h30 Ngài trở lui, dẫn theo hai thầy giảng và hai giáo dân Chợ Mới. Lúc trời tối, giáo dân đã đến rước Ðức Cha đi võng, các Cha đi bộ trong màn đêm lặng lẽ, và từ bờ biển về Chợ Mới bằng yên trong đêm 07.09.1671. Tại đây, sử liệu còn ghi thêm: "Các Cha ngồi giải tội, Ðức Cha ban Bí tích Thêm Sức cho 200 em và một ít người lớn". Lúc bấy giờ Giáo xứ Chợ Mới đã có 800 giáo dân. Ðó là giây phút lịch sử vàng son và hạnh phúc nhất cho cộng đoàn Giáo xứ Chợ Mới.
Như vậy đạo Công Giáo ở Giáo xứ Chợ Mới tính đến nay đã có khoảng 328 năm, một giáo xứ lâu đời nhất của Khánh Hoà. Cũng như những giáo xứ đầu tiên của Khánh Hoà, Ông bà, cha mẹ của giáo dân Chợ Mới là những người con cả lúc bấy giờ, vốn là những người con gốc từ Nam - Ngãi - Bình - Phú, theo phong trào Nam tiến, thời Chúa Nguyễn, đã kéo vào lập nghiệp sinh sống tại miền đất Nha Trang cho tới ngày hôm nay.
Rời khỏi Nha Trang, men quốc lộ 1, hướng về nam, chừng 2 cây số, nơi đây rẽ qua phải, để tiếp tục xuôi bước về hướng Bắc, men Hương Lộ 45 trên một cây số, hai bên vườn dừa rậm mát, nhìn về hướng Ðông, nơi đây hiện lên một ngôi thánh Ðường, với ngọn tháp chuông cao vút, trang trọng cung kính, đó là trung tâm của Giáo xứ Chợ Mới.
Thu hình dưới một rừng dừa xanh ngát, cạnh giòng Sông Cái Nha Trang thuộc Thôn Ngọc Hội, Xã Vĩnh Ngọc, thành Phố Nha Trang, Tỉnh Khánh Hoà. Cách nay trên ba thế kỷ, một số cu dân sống bằng nghề biển, làm đồ gốm, chính vì thế mà Chợ Mới còn có tên là Xóm Thuyền hay Xóm Gốm.
Giáo xứ Chợ Mới trong thời kỳ bắt đạo:
Ðồng số phận như những anh em trong cộng đoàn dân Chúa thuộc các giáo xứ khác từ Bắc chí Nam, giáo dân Chợ Mới cũng trải qua một thời kỳ bắt đạo khủng khiếp, cũng tù đầy, tra tấn, cùng cam chịu đủ mọi thứ cực hình dành cho những kẻ xưng danh vì Ðạo Chúa. Trong số những người đã được diễm phúc đó, có Nữ tu Bề Trên Dòng Mến Thánh Giá Chợ Mới, Chủng sinh Giuse Hữu và cả gia đình Ông Phúc gồm 7 người đều chôn trong một cái hầm và cũng là nơi chôn xác Anê Dần tử đạo thời Văn Thân. Một số giáo dân để được an thân giữ đạo buộc lòng bỏ mồ mã tổ tiên di cư vào Nam. Hiện nay, rãi rác trong giáo xứ, nhiều ngôi mộ xưa để lại rong rêu phủ đầy với cây Thánh Giá hai ngang. Người ta nói: đó là những ngôi mộ của các vị anh hùng, hy sinh tính mạng để bảo vệ đức tin và làm vinh danh Thiên Chúa. Tất cả những ngôi mộ này đều được xây cất theo kiến trúc Á Ðông, đặc biệt là với Thánh Giá hai ngang. Một trong những ngôi mộ đó, người ta đọc trên tấm bia dòng chữ Nho: "Bá Ða Lộc chi mộ", hiện toạ lạc tại khu giáo Bá Ða Lộc, Chợ Mới, Phường Ngọc Hiệp.
Trong thời Pháp thuộc, tại đây có một cái chợ nhỏ dành cho gia nhân người Pháp cũng như người Việt Nam từ Nha Trang lên mua sắm thức ăn hằng ngày. Sau đó, một cái chợ được xây cất khang trang mát mẻ thay cho cái chợ nhỏ trước kia. Ðó là cái Chợ Mới, Chợ Mới tại Phường Ngọc Hiệp ngày nay, và cũng từ đó giáo xứ được mang một cái tên mới là: Giáo xứ Chợ Mới.
Các đặc điểm của giáo xứ:
Giáo xứ Chợ Mới thuộc ngoại ô thành phố Nha Trang chỉ cách trung tâm thành phố khoảng 3km, cách quốc lộ 1 trên 1km. Khung cảnh thôn quê với dừa xanh, sông nước, nhưng đất canh tác không có nên vấn đề kinh tế gặp khó khăn, nông nghiệp thì không đất đai, buôn bán không thuận lợi. Ða số giáo dân sinh sống bằng nghề tự do. Tuy gần trung tâm thành phố nhưng kinh tế đã hạn chế sinh hoạt văn hoá rất nhiều. Lại nữa, cũng vì gần trung tâm thành phố nên Chợ Mới thỉnh thoảng trở thành nơi trú thân bất đắc dĩ của nhiều băng, nhóm, trộm cắp từ thành phố, và do đó có nhiều dịp để con em trong giáo xứ rơi vào các tệ nạn xã hội. Chợ Mới gần Sông Cái, nhưng lại là vùng đất nhiều mặn, nhiều phèn, ngoài cây dừa, những thứ cây khác khó phát triển trên vùng đất này. Hy vọng trong tương lai với việc mở rộng hương lộ 45 với chương trình nước trong nước sạch cho nông thôn đời sống giáo dân Chợ Mới có thể khá hơn chăng.
Các cơ sở trước thời Văn Thân:
Ngôi thánh đường, Nữ tu viện, Nhà mồ côi, và theo truyền khẩu: một tiểu chủng viện, không còn để lại dấu tích gì, trừ nền móng ngôi thánh đường trong đó có ngôi mộ (có lẽ của một vị Thừa sai hay cha sở) chôn cất trên gian cung thánh năm 1801.
Ngày nay Giáo xứ Chợ Mới gồm có 6 khu giáo:
Khu giáo Lavang - Khu giáo Fatima - Khu giáo Lộ Ðức
Khu giáo Mả Thánh - Khu giáo Lư Cấm - Khu giáo Bá Ða Lộc
Cơ sở hiện nay:
Ngôi thánh đường hiện tại xây cất sau thời Văn Thân không rõ năm nào được đại tu năm 1948. Hiện nay đã xuống cấp.
Ngôi nhà xứ xây năm 1969
Một hội trường xây năm 1970
Một trường tiểu học 4 phòng, nhà nước đang trưng dụng
Một cơ sở của cộng đoàn các Nữ tu Dòng Khiết Tâm Ðức Mẹ
Một nghĩa trang - Một Hang đá Ðức Mẹ
Sưu tầm